LTS: Tờ báo Isrageo ở Israel đăng một bài báo nói về cộng đồng người Việt Nam ở Israel. Cộng đồng này đến Israel lần đầu tiên sau 1975, sau khi một chiếc tàu Israel cứu thuyền nhân Việt Nam trên biển và đưa về nước họ. Sau đó, Israel tiếp tục nhận thêm nhiều thuyền nhân Việt Nam tị nạn, cho họ nhập quốc tịch, giúp hình thành một cộng đồng nhỏ người Việt tại đây. Tư liệu dưới đây được nhà nghiên cứu độc lập Trần Quốc Nam dịch từ trang Isrageo, một tờ báo tiếng Nga của cộng đồng người Do Thái gốc Nga ở Israel. Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ đăng lại bản dịch với sự cho phép của tờ báo Isrageo.
ВЬЕТНАМЦЫ ЗЕМЛИ ОБЕТОВАННОЙ
Алексей С. Железнов
Сегодня в Израиле проживает несколько тысяч этнических вьетнамцев, официальных граждан еврейского государства. О них на страницах московского журнала “Эхо планеты” рассказал известный израильский журналист, член редколлегии журнала “Исрагео” Захар ГЕЛЬМАН
Người Việt nơi miền Đất hứa
Tác giả: Aleksey C. Jeleznov
Dịch giả: Trần Quốc Nam
Ngày nay, có hàng ngàn người gốc Việt sanh sống ở Israel, những công dân chính thức của quốc gia Do Thái. Nhà báo nổi tiếng người Israel, biên tập viên tạp chí “Isrageo” Zakhar GELMAN đã kể về họ trên tạp chí Moskva “Tiếng vọng hành tinh”.
В конце семидесятых годов Еврейское агентство “Сохнут” приняло новоприбывших вьетнамцев на свой баланс, создав им условия для изучения иврита и назначив соответствующее пособие
Vào cuối thập niên 1970, Cơ quan Do Thái “Sokhnut” đã chấp nhận những người Việt Nam mới đến vào bảng quyết toán thường niên sau khi tạo điều kiện cho họ học tiếng Do Thái và ấn định một khoản trợ cấp thích hợp.
Большинство из них, как выяснилось, оказалось на Святой земле в качестве беженцев во второй половине 1970-х годов. Именно тогда американцы, потерпев поражение в Южном Вьетнаме в борьбе с коммунистическим Вьетконгом, вывели оттуда свои войска. Немало вьетнамцев, так или иначе сотрудничавших со свергнутым режимом и опасавшихся репрессий новых властей, стали беженцами.
Rõ ràng, hầu hết họ đều đến Thánh địa làm người tị nạn vào nửa sau thập niên 1970. Chính xác là lúc, người Mỹ, sau thất bại ở miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống lại Việt Cộng, đã triệt thoái quân đội. Nhiều người Việt Nam, bằng cách này hay cách khác vốn cộng tác với chế độ đã bị lật đổ và sợ bị chính quyền mới trấn áp, đã trở thành người tị nạn.
История вьетнамцев в Израиле началась ранним утром 10 июня 1977 года, когда израильское торговое судно “Юваль” подобрало недалеко от Тайваня 66 обессиленных вьетнамских беженцев, семь дней дрейфовавших на рыбацких лодках без еды, воды и топлива. Капитан “Юваля” Меир Тадмор принял решение доставить спасённых в Израиль, ведь ни одно государство не соглашалось их принять. 20 июня исполнявший тогда обязанности премьер-министра Израиля Менахем Бегин заявил, что государство Израиль предоставляет вьетнамским
беженцам политическое убежище. Это заявление прозвучало на весь мир. После этого в Израиль стали прибывать другие группы беженцев из Южного Вьетнама.
Câu chuyện người Việt ở Israel bắt đầu vào buổi sáng sớm ngày 10 tháng 6 năm 1977, khi chiếc tàu buôn Yuval của Israel vớt 66 người Việt tị nạn bị kiệt sức ở gần Đài Loan, họ trôi dạt trên tàu đánh cá trong bảy ngày mà không có thức ăn, nước uống hay nhiên liệu. Thuyền trưởng tàu “Yuval” Meir Tadmor quyết định đưa những người được giải cứu về Israel, rõ ràng là không một quốc gia nào đồng ý nhận họ. Vào ngày 20 tháng 6, Thủ tướng Israel đương nhiệm khi đó là Menachem Begin thông báo nhà nước Israel cấp quyền cư trú chính trị cho người tị nạn Việt Nam. Lời tuyên bố này gây tiếng vang ra toàn thế giới. Sau đó, các nhóm người tị nạn khác từ miền Nam Việt Nam bắt đầu đến Israel.
Большинство вьетнамцев, как известно, исповедуют буддизм, хотя многие придерживаются католической веры. Вскоре все прибывшие беженцы получили израильское гражданство. На самом деле далеко не всех их следует считать вьетнамцами. Немало среди них было и этнических китайцев.
Первым вьетнамцем израильского “разлива”, которого я встретил на Святой земле, оказался преподаватель… иврита. Плотный, невысокий и очень улыбчивый парень работал в городском ульпане — специальном учебном заведении для новоприбывших, изучающих иврит. Своим подопечным он представлялся как Матан. Так представился и мне. Но позже я узнал, что при рождении он получил имя Нгуен.
Đa số người Việt, như đã biết, theo đạo Phật, mặc dù có nhiều người mang đức tin Ky-tô giáo. Chẳng bao lâu sau, tất cả những người tị nạn đều nhận được quốc tịch Israel. Thực tế, không phải tất cả họ đều là người Việt. Không ít người trong số họ là người sắc tộc Hán.
Những Việt kiều Israel đầu tiên “trôi dạt tới” mà tôi gặp ở Đất Thánh, hóa ra lại là một giáo viên … tiếng Do Thái. Một thanh niên chắc con, không cao và rất hay cười làm việc ở Ulpan thành phố – một trường đặc biệt dành cho những người mới định cư học tiếng Do Thái. Anh tự giới thiệu mình với các học viên là Matan. Vì vậy, anh cũng tự giới thiệu mình với tôi như vậy. Nhưng sau này tôi mới biết tên khai sanh của anh là Nguyen (Nguyên? – ND).
Его родители бежали из одного из “лагерей по перевоспитанию”, которые, как грибы после дождя, выросли в Южном Вьетнаме после объединения с Севером. С трудом вместе с тремя дочерьми они добрались до Израиля. Здесь и родились Нгуен-Матан и его младший брат, у которого только одно, еврейское имя Шломо.
Матан окончил в Израиле школу, отслужил срочную службу в армии и поступил в университет. Его преподавательская работа в ульпане — всего лишь студенческая подработка. А Шломо мечтает стать военным. Однажды он показал мне старую фотографию, на которой был изображён пожилой человек в форме генерала южновьетнамской армии. “Мой дядя”, — с гордостью сообщил мне Шломо.
Song thân anh đào thoát khỏi một trong những “trại cải tạo” vốn mọc lên như nấm sau cơn mưa ở miền Nam Việt Nam sau khi thống nhất với miền Bắc. Đầy khó khăn, cùng với ba đứa con gái, họ đến được Israel. Tại đây Nguyen-Matan và em trai của anh ra đời, người em này chỉ có một tên, tên Do Thái Shlomo.
Matan tốt nghiệp trung học ở Israel, phục vụ có thời hạn trong quân đội rồi vào đại học. Công việc dạy học của anh tại Ulpan chỉ là công việc bán thời gian thời sinh viên. Còn Shlomo ước mơ trở thành một quân nhân. Một bửa, anh đưa cho tôi xem một tấm hình cũ chụp một người đàn ông lớn tuổi trong quân phục một vị tướng trong quân đội miền Nam Việt Nam. “Chú của tôi,” Shlomo tự hào nói với tôi.
Первое поколение израильских вьетнамцев вспоминает, что поначалу их всех израильтяне называли “китайцами”. Точно так же, как в России многие годы всех выходцев с Кавказа называли “грузинами”.
Еврейское агентство “Сохнут”, созданное для приёма еврейских репатриантов, в данном случае взяло на свой баланс вьетнамских эмигрантов. На каждого члена семьи по 740 израильских лир — огромные по тем временам деньги. Но не привыкшие к городскому образу жизни бывшие крестьяне быстро “проели” их, скупив в ближайших супермаркетах любимые рыбные консервы, которые в Израиле никогда не были дёшевы.
Thế hệ người Israel gốc Việt đầu tiên vẫn nhớ là lúc đầu họ bị người Israel gọi là “người Tàu”. Cũng y như ở Nga trong nhiều năm, tất cả những người gốc Kavkaz tới đều bị gọi là “người Gruzia”.
Cơ quan Do Thái “Sokhnut”, được thành lập để tiếp nhận người Do Thái hồi hương, trong trường hợp này đã đảm nhận bảng quyết toán thường niên của người Việt Nam di cư. Mỗi thành viên trong gia đình được 740 lira Israel – một số tiền rất lớn vào thời đó. Nhưng không quen với lối sống thị thành, những người vốn là nông dân, đã nhanh chóng “ăn cháy túi” số tiền sau khi mua ráo mấy hộp cá ưa thích ở các siêu thị gần nhất, mà mấy thứ này không hề rẻ ở Israel.
Немного пообтесавшись в новых условиях, вьетнамцы стали работать на заводах. И здесь произошёл первый конфликт с израильтянами. Азиаты работали слишком… быстро. Хозяева многих заводов, видя проворность вьетнамских рабочих, стали просто увеличивать нормы выработок. В других случаях при приёме на работу предпочтение стали отдавать вьетнамцам.
В начале 1980-х годов выходцы из Вьетнама резко увеличили производительность труда на автомобильном заводе в Нацерете. Однако до серьёзных конфликтов с местным населением дело, к счастью, не дошло. Вьетнамцы поголовно вступили в профсоюз и строго подчинились коллективной дисциплине. Стали, короче, настоящими израильтянами.
Sau khi quen dần với điều kiện sống mới, người Việt bắt đầu làm việc trong các nhà máy. Và ở đó đã xảy ra sự xung đột đầu tiên với người Israel. Người châu Á làm việc quá … nhanh. Giới chủ ở nhiều nhà máy, khi nhận thấy sự nhanh nhẹn của công nhân Việt, đơn giản là họ bắt đầu tăng định mức sản xuất. Trong nhiều trường hợp khác, trong tuyển dụng, người bắt đầu ưu ái cho người Việt hơn.
Vào đầu thập niên 1980, những người Việt nhập cư tăng năng suất mạnh mẽ tại nhà máy ô tô ở thành phố Nazareth. Song, thật may mắn, đã không xảy ra xung đột nghiêm trọng với người dân sở tại. Mọi người Việt tham gia công đoàn và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tập thể. Tóm lại, họ đã trở thành những người Israel thiệt sự.
Сегодня большинство ресторанов с азиатской кухней в Израиле принадлежит или вьетнамцам, или китайцам вьетнамского происхождения. Адас Хуань, например, содержит китайский ресторан “Синг Лонг”, название которого переводится как “Семья и удача”. Её жизнь среди евреев сложилась вполне удачно. Отслужив в израильской армии, она много путешествовала по миру. Добралась даже до Таиланда. Но заехать во Вьетнам так и не решилась. Говорит, что не желает бередить старые раны. Ведь Адас Хуань была ещё ребёнком, когда её семье едва удалось унести ноги из охваченной войной родины.
А вот её брат Минг, которого на израильский манер называют Меиром, уже несколько раз посещал свою родную деревню, что возле портового города Дананг. Он даже отыскал некоторых из своих родственников, с которыми ему, правда, трудно было общаться, поскольку Минг не знает вьетнамского, а они — ни английского, ни тем более иврита.
Ngày nay, đa phần nhà hàng bán món Á ở Israel đều do người Việt hoặc người Việt gốc Hoa làm chủ. Ví dụ, Adas Huan (Huấn? – ND) quản lý nhà hàng món Hoa Sing Long, cái tên có thể dịch là “Gia đình và Vận may”. Cuộc sống của cô với người Israel khá thành công. Sau khi phục vụ trong quân đội Israel, cô đã đi du lịch nhiều nơi trên thế giới. Cô thậm chí còn đến Thái Lan. Nhưng sang Việt Nam thì cô không dám. Cô nói là cô không muốn chạm vào vết thương cũ. Hẳn, Adas Huan hẳn vẫn còn là một đứa bé khi gia đình cô khó nhọc lê chân rời khỏi một quê hương bị chiến tranh tàn phá.
Vậy mà anh trai Minh của cô, theo cách gọi của Israel là Meir, đã mấy lần về thăm ngôi làng bản quán của mình ở gần thành phố cảng Đà Nẵng. Anh thậm chí còn gặp được một số người thân của mình, thật ra, rất khó giao tiếp với anh, bởi lẽ Minh không biết tiếng Việt và họ không biết tiếng Anh, đó là chưa nói đến tiếng Do Thái.
Другому израильтянину Нго Ену, которому сейчас 40 лет, тоже есть что вспомнить. Он прибыл в Израиль в семилетнем возрасте круглым сиротой. Его родители и дедушка утонули, когда утлое судёнышко, на котором они бежали из Вьетнама, перевернулось во время шторма. В Израиле маленького вьетнамца взяла на воспитание семья Даубер, жившая в Тель-Авиве. Способный мальчик окончил школу с отличием, поэтому в армии ему доверили служить в элитных частях. После окончания колледжа молодой человек успешно занялся бизнесом и сейчас владеет несколькими прибрежными кафе в северной части Тель-Авива. Он женат на коренной израильтянке, но не забывает приёмных родителей. Субботу и еврейские праздники чаще всего проводит в их доме.
Нго Ен — искренний патриот Израиля, хотя говорит, что слово “Вьетнам” поднимает в нём бурю чувств. По его словам, он не страшится арабского террора, потому что, во-первых, родился во Вьетнаме в разгар войны, а во-вторых, уверен, что исламисты уже начали осознавать бессмысленность действий своих так называемых шахидов.
Một người Israel khác là Ngo Yen, nay 40 tuổi, cũng có những điều đáng nhớ. Ông đến Israel năm 7 tuổi như một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha, mẹ và ông nội của ông đã chết đuối khi chiếc thuyền mong manh mà họ dùng để chạy trốn khỏi Việt Nam bị lật trong một cơn bão. Tại Israel, cậu bé người Việt được gia đình Dauber sống ở Tel Aviv nhận nuôi dưỡng. Một cậu bé có năng lực tốt nghiệp trung học hạng ưu nên trong quân đội cậu được phân bổ phục vụ trong những đơn vị tinh nhuệ. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, chàng trai trẻ thành đạt trong kinh doanh và hiện sở hữu một số quán cà phê ven sông ở phía bắc Tel Aviv. Ông kết hôn với một thanh nữ Israel chánh gốc, nhưng không quên cha mẹ nuôi của mình. Thường ngày thứ Bảy và những ngày lễ Do Thái ông đến thăm họ.
Ngo Yen là một người thành thực yêu nước Israel, mặc dù ông nói rằng từ “Việt Nam” dấy lên trong ông một tình cảm tràn dâng. Theo lời ông, ông không sợ sự khủng bố của người Ả Rập, bởi vì, thứ nhất, ông sinh ra ở Việt Nam vào thời điểm ác liệt của cuộc chiến, và thứ hai, ông tin chắc rằng những tín đồ Hồi giáo đã bắt đầu nhận ra sự vô nghĩa của những hành động của họ, những người được gọi là tử vì đạo.
“Khi các nhà sư Phật giáo ở miền Nam Việt Nam phản đối chống lại hành động của nhà cầm quyền, ông Ngô Yên nhớ lại, họ đã tự thiêu, nhưng họ chưa bao giờ giết thường dân vô tội.”
“Когда в Южном Вьетнаме монахи-буддисты протестовали против действий властей, — вспомнил Нго Ен, — они сжигали себя, но никогда не убивали ни в чём не повинных граждан”.
Интересно, что вьетнамские девушки в качестве ухажёров и потенциальных женихов предпочитают израильтян. Таль Тань Тау, её имя переводится как “хорошая девочка”, было только 22 года, когда она начала руководить семейным рестораном “Бамбуковый сад”, расположенном на главной улице города Ришон ле-Цион . У неё сильный и независимый характер. Она говорит: “Мужчины-вьетнамцы слишком мягкотелые. Мы же их живьём съедим”. Неудивительно, что Тань Тау вышла замуж за израильтянина. А вот Самуй Лам собирается замуж за еврея, выходца из России. Она считает, что “русские” начитанны, много знают и с ними никогда не скучно.
Большинство осевших в Израиле вьетнамцев мечтают о карьере военного. Здесь, скорее всего, виновата память о вьетнамской войне. Хотя многих сегодня здесь по-настоящему беспокоит сложная обстановка в регионе.
“Khi các nhà sư Phật giáo ở miền Nam Việt Nam phản đối chống lại hành động của nhà cầm quyền, ông Ngo Yen nhớ lại, họ đã tự thiêu, nhưng họ chưa bao giờ giết thường dân vô tội.”
Thú vị cái là các cô gái Việt lại thích người cầu hôn và chồng tương lai là người Israel hơn. Tal Tan Tau, tên cô được dịch ra là “cô gái tốt bụng”, chỉ mới 22 tuổi khi cô bắt đầu điều hành nhà hàng gia đình “Vườn tre”, nằm trên con đường chánh của thành phố Rishon LeZion. Cô có một tính cách mạnh mẽ và độc lập. Cô nói: “Đàn ông Việt quá nhu nhược. Chúng tôi sẽ ăn tươi nuốt sống họ”. Lẽ tất nhiên, Tan Tau kết hôn với một công dân Israel. Ngay cô Samui Lam sẽ kết hôn với một người Do Thái, người gốc Nga. Cô cho là “người Nga” là những người hiếu đọc, biết nhiều và không bao giờ cảm thấy chán họ.
Hầu hết người Việt định cư ở Israel đều mơ ước theo binh nghiệp. Trong chuyện này, hầu như chắc chắn, ký ức về Chiến tranh Việt Nam là căn nguồn. Mặc dù ở đây ngày nay nhiều người thực sự lo lắng về tình hình phúc tạp trong khu vực.
ИЗ ДОСЬЕ
Вьетнамские общины существуют во многих странах мира. Самая большая — в США. Там она образует четвёртую по величине после китайской, филиппинской и индийской. Интересно, что основная масса вьетнамцев — более миллиона — попала в Америку, так же как и в Израиль, после того, как в 1975 году перестал существовать Южный Вьетнам. За океаном социологи выделяют две категории вьетнамских беженцев. Первую составляют те, кто служил в государственных и политических южновьетнамских структурах. Эти люди, скорее, не бежали из Вьетнама, а эвакуировались вместе с американскими войсками в 1975 году. Другую группу вьетнамцев в США составляют эмигранты, которых в народе называют “людьми в лодках”. Эта категория нынешних американских и бывших вьетнамских граждан, по всей видимости, не смогла приспособиться к новым реалиям коммунистического режима. Эти люди покидали свою родину в экстремальных условиях. Понятно, что в Израиле вьетнамскую диаспору составляют “люди в лодках”.
Chiểu theo hồ sơ
Cộng đồng người Việt Nam hiện diện ở nhiều nước trên thế giới. Cộng đồng lớn nhất là ở Hoa Kỳ. Ở đó, họ này tạo thành cộng đồng lớn thứ tư sau Trung Hoa, Philippines và Ấn Độ. Thú vị là đại bộ phận người Việt – hơn một triệu người – đã tới Hoa Kỳ, cũng như tới Israel, sau khi miền Nam Việt Nam chấm dứt tồn tại vào năm 1975. Ở hải ngoại, các nhà xã hội học phân hai nhóm người Việt tị nạn. Nhóm thứ nhất là những người từng phục vụ trong các cơ cấu chính trị và nhà nước của miền Nam Việt Nam. Những người này, đúng hơn, đã không chạy trốn khỏi Việt Nam, mà đã được di tản cùng với quân đội Mỹ vào năm 1975. Một nhóm người Việt khác ở Hoa Kỳ xếp vào những người nhập cư, được dân chúng gọi là “thuyền nhân”. Nhóm công dân Mỹ hiện tại và những cựu công dân Việt Nam trước đây này, theo mọi góc nhìn, đã không thể thích ứng với những thực tế mới của chế độ cộng sản. Những người này đã rời bỏ quê hương mình trong những điều kiện cực đoan. Rõ ràng là ở Israel, cộng đồng người Việt di cư là từ ” thuyền nhân” mà ra.
+++++
Nguồn: http://www.isrageo.com/2013/12/17/vietn020/