Kinh tế - Chính trị
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 5)
Published on
Tóm lược:
Mục tiêu của bài viết này là:
(i) lý giải lý thuyết Bàn tay Vô hình của Adam Smith;
(ii) tóm lược những biến chuyển kinh tế, chính trị, xã hội, và công nghệ đã trói Bàn tay Vô hình, vô hiệu hóa sự hữu hiệu của chủ thuyết kinh tế “thị trường” cổ điển theo giả thuyết Bàn tay Vô hình và “cung tạo ra cầu” của Đinh luật Say;
(iii) tóm lược những biến chuyển đưa đến chủ thuyết kinh tế thị trường mới, thuyết giảng và chứng minh rằng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, và công nghệ mới, chính phủ phải dùng công cụ của chính sách tài chính công và tiền tệ để điều tiết hoạt động kinh tế quốc gia;
(iv) do nhu cầu can thiệp của chính quyền, các quốc gia phát triển ngày nay đều có nền kinh tế pha trộn (mixed economy);
(v) Việt Nam với thể chế độc đảng, toàn trị, và nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, dựa vào bản chất pha trộn của các nền kinh tế phát triển để đưa ra những biện minh yêu cầu Mỹ công nhận có nền kinh tế thị trường;
(vi) dựa trên dữ liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF) và chính sách phát triển của thể chế Việt Nam đưa ra giả thuyết tại sao Hà Nội gấp rút yêu cầu Mỹ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường
(vii) liệt kê 6 tiêu chí mà Bộ Thương Mại (BTM) Mỹ căn cứ để xem xét các quốc gia đối tác có “nền kinh tế thị trường” hay không;
(viii) tóm lược luận cứ Hà Nội và thư gửi BTM Mỹ của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN (the US-ASEAN Business Council) về nền kinh tế Việt Nam, và đưa những điều bất cập trên bình diện lý thuyết và thực tiễn đã và đang xẩy ra tại Việt Nam như là những phản biện;
và sau cùng (ix) đưa ra một vài suy tư để thay lời kết.
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 1)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 2)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 3)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 4)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 5)
Liên doanh hoặc đầu tư nước ngoài được phép tại Việt Nam
Về vấn đề Liên doanh hoặc đầu tư của các công ty nước ngoài được phép tại Việt Nam, Hà Nội cho rằng trên thực tế Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài. Từ năm 2018 đến tháng 6/2023, toàn quốc có 14.553 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 102,24 tỷ USD từ 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Thư của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN gửi BTM Mỹ yểm trợ yêu cầu của Việt Nam lập luận rằng “Năm 2014, Việt Nam đã giảm số lượng các ngành công nghiệp bị hạn chế (đối với người nước ngoài) từ 386 xuống còn 272. Ngày nay, chỉ có 25 ngành công nghiệp vẫn nằm ngoài giới hạn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Hầu hết các ngành công nghiệp thuộc các quy định nghiêm ngặt hoặc được chính phủ coi là rất nhậy cảm về chính trị, đều thuộc các lĩnh vực như điều tra và an ninh, báo chí và chất nổ.
Trên thực tế, với sự tham vấn chặt chẽ với ngành công nghiệp, bao gồm cả Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN, chính phủ đã thực hiện một chương trình cắt giảm những hạn chế đó, chẳng hạn như giảm hoặc loại bỏ các yêu cầu cấp phép và tăng hoặc loại bỏ giới hạn sở hữu nước ngoài (foreign ownership limits – FOL)”.
Thực tại thì ngoài các doanh nghiệp quốc doanh theo luật định tại Việt Nam, một sự thât khó có thể phủ nhận, dù đảng và quan chức cố che dấu, là tất cả quan chức đều có sân sau, tiêu biểu là Tô Lâm với AVG và tập đoàn Xuân Cầu, Nguyễn Phú Trọng với Ciputra, cùng vô số các sân sau khác. (Dù không có cơ bản pháp lý là các sân sau này là các doanh nghiệp độc quyền, nhưng thực chất là không một cơ sở tư nhân nào có thể cạnh tranh và liên doanh với công ty ngoại quốc sẽ cản trở cơ hội bòn rút của quan chức chống lưng). Một lãnh vực nữa là nhân danh an ninh quốc gia, quân đội Việt Nam làm kinh tế. Quân đội Việt Nam đã nhúng tay vào nhiều lãnh vực kinh tế; Ngân hàng Quân đội, MB, Công ty Tân Cảng Sài Gòn, và Viettel là một vài lãnh vực đơn cử. Vì quan chức cấp cao trong Đảng và nhà nước, tướng lãnh quân đội là đảng viên nên, một cách gián tiếp nhưng vô cùng hữu hiêu, Đảng và nhà nước Việt Nam kiểm soát các phương tiện sản xuất này.
Về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, Phương Dung (2024) tường trên VNExpress ngày11 tháng 10, năm 2024 như sau:
“Thông tin nêu tại báo cáo Chính phủ gửi Quốc hội về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh năm 2023 của 671 doanh nghiệp nhà nước. Số này gồm 473 doanh nghiệp do Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ và 198 đơn vị có trên 50% vốn Nhà nước.
Theo đó, 134 doanh nghiệp còn lỗ lũy kế, tổng cộng 115.270 tỷ đồng, tương đương 4,6 tỷ USD (tính theo tỷ giá quy đổi ngày 8/10) tới cuối năm ngoái. Mức lỗ lũy kế này gấp 1,7 lần so với ghi nhận cuối năm 2022 (gần 69.900 tỷ đồng).
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp có lãi trên 5.000 tỷ đồng chủ yếu là các tập đoàn, tổng công ty. Chẳng hạn, trong lĩnh vực năng lượng, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) lãi trước thuế gần 56.400 tỷ đồng; Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) lãi sau thuế 6.329 tỷ.”
Chính phủ sở hữu hoặc kiểm soát các phương tiện sản xuất
Hà Nội quả quyết trong văn kiện yêu cầu Mỹ đem Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường rằng chính phủ Việt Nam không sở hữu hoặc kiểm soát tư liệu sản xuất ở một mức độ đáng kể.
Thư của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN gữi BTM Mỹ cho rằng “Mặc dù Việt Nam không cho phép tư nhân sở hữu đất đai như Hoa Kỳ, nhưng Việt Nam có một thị trường bất động sản thứ cấp mạnh mẽ cho các mục đích công nghiệp và nhà ở, cho phép các bên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại và góp vốn hoặc thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. ‘Trên thị trường thứ cấp, các bên được tự do đàm phán về giá chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Chính phủ không can thiệp vào các giao dịch đó’.
Chính phủ Việt Nam vẫn nhấn mạnh ‘vai trò chủ đạo’ của khu vực kinh tế quốc doanh, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, đất đai, tài nguyên, thu thuế, quỹ của chính phủ, hệ thống bảo hiểm xã hội và y tế, hệ thống dịch vụ tài chính, hệ thống cơ sở hạ tầng, v.v….
Tuy nhiên, ảnh hưởng thực tế của khu vực này đối với nền kinh tế đã giảm dần, dẫn đến sự nổi bật của các khu vực ngoài nhà nước, bao gồm khu vực tư nhân trong nước và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (the foreign invested enterprise -FIE).”
Nếu nhìn vào thực tế của nền kinh tế Việt Nam sẽ thấy các vấn đề trái ngược sau đây:
- Theo luật pháp Việt Nam “nhân dân nắm giữ tất cả các quyền sở hữu với nhà nước là người quản lý” nên không một người dân nào được phép sở hữu đất đai ở Việt Nam mà phải mua quyền sử dụng và quyền thay đổi mục đích sử dụng đất. Khung giá cho các quyền này do quan chức quy định và là cơ hội để các quan chức lợi dụng chức quyền để thu tóm tài sản của người dân và ngân sách nhà nước.
- Thị trường xăng dầu, điện, Vietnam Airline do nhà nước độc quyền khai thác. Và, qua Ngân hàng Nhà nước, quan chức Việt Nam kiểm soát toàn bộ thị trường vàng và lĩnh vực tài chính ngân hàng vì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có độc quyền mua bán vàng cũng như kiểm soát hoàn toàn lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Một sự thât khó thể phủ nhận, dù Đảng và quan chức cố che dấu, là ảnh hưởng của sân sau của tất cả quan chức trong nền kinh tế đến vấn đề chính phủ sở hữu hoặc kiểm soát các phương tiện sản xuất. Như đã trình bày trên, dù không có cơ bản pháp lý là các sân sau là các doanh nghiệp độc quyền, nhưng thực chất là không một cơ sở tư quốc gia hay ngoại quốc nào có thể cạnh tranh với chúng. Một câu nói rất phổ thông tại nhiều quốc gia tham nhũng là “rất khó cho quan chức phê chuẩn một dự án nhưng rất dễ cho họ bác bỏ hay làm chậm tiến độ của một dự án trên bàn giấy của họ”. Vì quan chức trong Đảng và nhà nước là đảng viên, một cách gián tiếp nhưng vô cùng hữu hiêu, Đảng và nhà nước Việt Nam kiểm soát các phương tiện sản xuất trong nền kinh tế.
Một kênh rất tiềm ẩn và vô cùng hữu hiệu mà chính phủ kiểm soát các phương tiện sản xuẩt trong nên kinh tế quốc gia là bằng cách kiểm soát hệ thống ngân hàng và tài chính qua sự kiểm soát Ngân hàng Nhà nước. Lý giải vấn đề này vượt quá phạm vi của bài viết; tuy nhiên xin ghi nhận các điểm trội sau đây của lý thuyết về chính sách tiền tệ của Mỹ.
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ (và của hầu hết các quốc gia khác) là:
- Thúc đẩy sản lượng và việc làm bền vững “tối đa”;
- Thúc đẩy giá “ổn định”.
- Duy trì tăng trưởng dài hạn của tổng hợp tiền tệ và tín dụng để đạt được hiệu quả các mục tiêu về việc làm tối đa giá cả ổn định và lãi suất dài hạn vừa phải.
Nói cách khác, sứ mệnh của Quỹ Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System – Fed) là giữ mức độ lạm phát và tỷ số thât nghiệp dưới mức chấp nhận được. Khó khăn cho Fed trong sứ mệnh được giao phó là hai biến số kinh tế vĩ mô này hoán đổi lẫn nhau, được hiểu là khi Fed áp dụng công cụ của chính sách tiền tệ phản chu kỳ quá độ để hạ mức độ lạm phát quá độ sẽ đẩy tỷ số thât nghiệp lên cao, và ngược lại.
Và, để hoàn thành sứ mệnh khó khăn được giao phó, Fed dùng các công cụ (instruments) sau đây để điều chỉnh khi mức độ lạm phát hay tỷ số thất nghiệp vượt cao hơn mức độ chấp nhận được, mà trong thuật ngữ kinh tế được gọi là chính sách tiền tệ phản chu kỳ (Coutercyclical Monetary Policy):
- Thị Trường Mở Liên bang (Federal Open Market Operations);
- Tỷ số dự trữ bắt buộc (Required Reserve Ration);
- Lãi Suât Quỹ Dự trữ Liên bang cho các ngân hàng thương mại hội viên
- vay mượn (discout rate);
- Lãi suất mà Fed trả cho tài khoảng mà ngân hàng hội viên ký thác tại
Fed (một phần của dự trữ bắt buộc).
Tài nguyên quốc gia, tình trạng kinh tế, yếu tố địa chính trị, và xã hôi trong nước cũng như trên thế giới cùng với tốc độ thăng tiến của xã hội, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, phải khác từ thời điểm này sang thời điểm khác qua thời gian. Do đó, dù một vấn đề kinh tế ngày nay có hoàn toàn giống vấn đề trong quá khứ, cường độ, quá trình thực thi (cắt giảm hay gia tăng mức độ gia tăng của các công cụ), và thời gian để chính sách tiền tệ giải quyết vấn đề kinh tế trong quá khứ đó không còn hữu hiệu để khắc phục vấn đề hôm nay, mà chúng chỉ có thể là một chỉ điểm cho công trình “lần đá qua sông”, để khắc phục vấn đề thất nghiệp hay lạm phát trong nền kinh tế quốc gia hiện tại.
Hơn nữa, lịch sử của chính sách tiền tệ Mỹ cho thấy rằng hiệu quả của chính sách tiền tệ cần 8 đến 12 tam cá nguyệt (hay 2 đến 3 năm) để hoàn chỉnh; do đó, quá trình triển khai và thực thi chính sách tiền tệ phải qua nhiều bước để tránh áp dụng công cụ của chính sách tiền tệ phản chu kỳ quá độ. Vì phải lần đá qua sông, nên sau mỗi bước Fed (hay ngân hàng nhà nước của bẩt cứ quốc gia nào) phải chờ đợi, theo dõi, dự phóng xem bước đó đã giúp đạt mục tiêu mong muốn chưa, và điều này cần thời gian.
Như vừa trình bày trên, sứ mệnh của các ngân hàng trung ương của các quốc gia dân chủ chỉ vỏn vẹn là giữ mức độ lạm phát và tỷ số thât nghiệp dưới mức chấp nhận được. Một điểm vô cùng quan trọng mà lý thuyết về chính sách tiền tệ đã chứng minh, đồng thời thực tiễn đã xác nhận là để có thể hoàn thành sứ mênh trọng đại này, các ngân hàng trung ương phải khả tín hay có uy tín đối với thị trường tài chính. Muốn tạo được khả tín hay uy tín thì ngân hàng trung ương phải nhất quán và kiên trì theo đuổi mục tiêu của biến số kinh tế vĩ mô khi đã đặt ra (hoặc mức độ lạm phát hay tỷ số thất nghiệp) cho đến khi đạt đươc mục tiêu tuyên bố; nếu bỏ dở sẽ mất sự khả tín hay uy tín đối với thị trường tài chính và ngân hàng. Kết quả tất yếu là thị trường tài chính cũng như hệ thống ngân hàng sẽ không tin khi ngân hàng trung ương tuyên bố mục tiêu của chính sách tiền tệ kế tiếp.
Nếu quan sát các quốc dân chủ, ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế này rất nhất quán và kiên trì theo đuổi cho đến khi đạt được mục tiêu của lạm phát hay tỷ số thất nghiêp mà họ đã đặt ra và tuyên bố. Do đó, uy tín của họ đối với thị trường tài chính và ngân hàng rất cao. Khi ngân hàng trung ương có uy tín tuyên bố cắt giảm hay gia tăng lãi suất, ngân hàng thương mại phản ứng bằng cách giảm hay gia tăng lãi suất cho vay của chúng đồng chiều (có thể không cùng mức độ) với ngân hàng trung ương. Phản ứng này chuyển tải tác vụ của chính sách tiền tệ tuyên bố đến thị trường tài chính. Ngược lại, nếu ngân hàng thương mại không tin hay hoài nghi là ngân hàng trung ương sẽ kiên trì theo đuổi cho đến khi đạt được mục tiêu, chúng sẽ không phản ứng đồng chiều; do đó, chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sẽ không thành công.
Trong khi đó, người viết (2015-a, và 2015-b) cho rằng ngoài trách nhiệm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái và duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn phải trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả (bao gồm cả các ngân hàng thương mại nhà nước với một số lớn nợ khó đòi – non performaced loans), các dự án phát triển công/hạ tầng cơ sở do quốc hội ủy quyền, thâm hụt ngân sách quốc gia (bao gồm thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc) và các nghĩa vụ tài chính quốc tế khác của chính phủ.
Vì quá nhiều mục tiêu trong sứ mệnh và một số trong các mục tiêu này đòi hỏi những chính sách tiền tệ trái ngược nhau để đạt đến, nên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không thể nhất quán và kiên trì theo đuổi mục tiêu của biến số kinh tế vĩ mô đã đặt ra và đang theo đuổi cho đến khi đạt đươc mục tiêu tuyên bố. Điều này làm tổn hại đến uy tín nên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không thể thực thi chính sách tiền tệ phản chu kỳ một cách hữu hiệu.
Để hoàn tất sứ mệnh được giao phó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải thực hiện chính sách tiền tệ theo kiểu lập đi lập lại (on again, off again manner). Điều này dẫn đến các giai đoạn lạm phát cao sau đó là tín dụng thắt chặt và lãi suất cao, thường dẫn đến thất bại trong kinh doanh. Các doanh nghiệp thất bại chủ yếu là tư nhân vì họ không có trợ cấp từ ngân sách hoặc đặc quyền vay mượn. Hơn nữa, tỷ lệ lạm phát cao làm giảm thu nhập quốc dân thật, gây ra sự bất mãn và bất ổn xã hội có thể xảy ra và tạo ra sự bất ổn theo chu kỳ, phá sản cá nhân và làn sóng đầu cơ trên thị trường bất động sản và chứng khoán. Điều này làm gia tăng sức mạnh tương đối của khu vực quốc doanh, gián tiếp gia tăng mức độ kiểm soát các phương tiện sản xuất của nhà nước.
Chính phủ kiểm soát việc phân bổ nguồn lực, quyết định giá cả và sản lượng
Để lý giải rằng nền kinh tế Việt Nam đủ tiêu chuẩn của nền kinh tế thị trường, Hà Nội lập luận rằng chính phủ Việt Nam không có quyền kiểm soát đáng kể đối với việc phân bổ nguồn lực hoặc quyết định giá cả và sản lượng của doanh nghiệp. Đồng thời, thư của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ – ASEAN gửi đến BTM Mỹ để yểm trợ yêu cầu của Hà Nội cho rằng Chính phủ Việt Nam không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, bao gồm các quyết định phân bổ nguồn lực, giá cả và sản lượng.
Một lần nữa, nếu quan sát kỹ hơn sẽ cho thấy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đặt khu vực công làm vai trò hàng đầu trong kế sách phát triển kinh tế quốc gia và cũng là sân sau cho các nhà lãnh đạo tham nhũng. Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Việt Nam nhận được sự đối xử ưu tiên về cơ hội và nguồn lực, cả về tài chính và các phương tiện khác. Ngoài ra, các DNNN này rất kém hiệu quả và là cơ sở cho tham nhũng của các nhà quản lý là đảng viên Đảng Cộng sản và được Đảng lựa chọn để quản lý các DNNN này. Do đó, họ tiếp tục hoạt động với mức lỗ đáng kể hàng năm và các khoản lỗ được chi trả bởi ngân sách, tức là thuế. Thị trường xăng dầu, thị trường điện, Vietnam Airline, Ngân hàng Trung ương Việt Nam có quyền lực độc quyền trong việc nhập khẩu và bán vàng.
Lý thuyết kinh tế vi mô đã chứng minh, thực tế đã xác nhận độc quyền sẽ có giá cao thêm vào tham nhũng và quan chức lãnh đạo kém khả năng giá cả không những cao mà còn không ổn định. Đây là thực trạng của giá cả xăng dầu, điện, và di chuyển. Đối với cơ sở sản xuất, tất cả các chi phí trong quá trình sản xuất, kể cả phí “bôi trơn”, sau cùng là chi phí sản xuất. Tất yếu là các chi phí này sẽ là cấu phần của giá sản phẩm hay dịch vụ khi đến tay người tiêu dùng. Do đó, dù vô tình hay cố ý, trong thể chế Việt Nam chính phủ kiểm soát việc phân bổ nguồn lực, quyết định giá cả và sản lượng.
Bộ Thương Mại cũng có thể xem xét các yếu tố khác mà BTM cho là phù hợp.
Về chỉ tiêu mang màu sắc chính trị này, Hà Nội biện minh rằng “Nền kinh tế Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc thị trường, như có khung pháp lý cơ bản cho doanh nghiệp phá sản, minh bạch trong hệ thống quản trị doanh nghiệp, đảm bảo hệ thống pháp luật nhất quán, đa dạng hóa và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Được nhiều quốc gia ghi nhận và đánh giá cao. 72 quốc gia đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường bao gồm các nền kinh tế lớn như Vương quốc Anh, Canada, Úc, Nhật Bản và Hàn Quốc.”
Có một câu nói nổi tiếng ở Việt Nam rằng: “Việt Nam có một rừng luật, nhưng khi xét xử và kháng cáo, Việt Nam áp dụng luật rừng”. Hoạt động cho vay do chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không minh bạch và sẽ không cho phép Ngân hàng thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ của mình, gây ra những bất lợi ngoài ý muốn cho khu vực tư nhân cũng như ngành tài chính trong nền kinh tế.
Hơn nữa, Đại hội IX đã thông qua chính sách kinh tế quốc gia: “… phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Các Quy tắc / Luật của ĐCSVN trên hiến pháp của đất nước và không nhất quán với khẩu hiệu “trong cuộc chiến chống tham nhũng, không có khu vực cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Về vấn đề này, thử xem Tập đoàn Xuân Cầu và Tổng Bí Thư Tô Lâm hay Tập đoàn Ciputra và cựu Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, thông cáo báo chí về việc cho thôi chức của các ông Nguyễn Xuan Phúc, Võ Văn Thưởng, Vương Đình Huệ, và bà Trương Thị Mai. Hầu như tất cả các quan chức chính phủ đều là đảng viên cộng sản, những người lần lượt chỉ định bạn bè hay phe nhóm của họ quản lý và kiểm soát nền kinh tế, dẫn đến tình trạng “thiểu số lãnh đạo và đa số bị khai thác” tạo cơ hội để tối đa hóa tham nhũng quyền và tiền của họ.
Các cơ quan chính phủ Việt Nam là vườn ươm cho các vấn đề như: Chuyến bay giải cứu, Vạn Thịnh Phát, FLC, AIC, Phúc Yên, Khu Thủ Thiêm, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Công ty Cây xanh Công Minh, Tập đoàn Phúc Sơn, v.v…, là những bằng chứng không thể chối cãi rằng quan chức và lãnh đạo doanh nghiệp đã âm mưu và lạm dụng quyền lực của họ để hỗ trợ bất hợp pháp cho các doanh nghiệp vì lợi ích cá nhân /thân hữu rất lớn. Ngoài ra, tham ô ngân sách quốc gia và các dự án đầu tư công của các quan chức chính phủ đang lan tràn ở Việt Nam.
Quá trình tư nhân hóa các DNNN vừa và nhỏ để hình thành các DNNN lớn đã làm giàu cho các đảng viên và bạn bè/nhóm lợi ích của họ rất nhiều thông qua tham nhũng. Báo chí chế giễu gọi chính sách phát triển kinh tế Việt Nam là “chính sách kinh tế dự án”: có nghĩa là các nhà lãnh đạo không có tư duy về kế hoạch phát triển kinh tế, chỉ có tư duy vạch ra các dự án để thực hiện để tối đa hóa tham nhũng của họ mà không quan tâm đến phúc lợi của dân chúng hay là bộ phận cấu thành của chính sách phát triển kinh tế.
Thay lời kết
Khi nhận định, đúng hơn là những lời cảnh bào về chính sách quốc gia Việt Nam Busch (2017) cho rằng “Việc áp dụng thận trọng và có trình tự các thể chế thị trường của Việt Nam đã mang lại hơn hai thập kỷ hoạt động kinh tế ấn tượng, trong khi nền kinh tế chính trị cơ bản của đất nước phần lớn vẫn còn nguyên vẹn và tình trạng ‘thiếu trung gian’ của Việt Nam, hoặc sự thiếu hụt của một khu vực tư nhân trong nước hiệu quả và sự thống trị liên tục của khu vực nhà nước. Do đó, mức xuất khẩu và đầu tư ấn tượng vẫn chưa mang lại lợi ích đồng thời cho giá trị gia tăng trong nước hoặc liên kết với các doanh nghiệp trong nước.”
Và từ đó Busch (2017) kết luận: “Vì những thách thức này thể hiện những rủi ro nghiêm trọng đối với tiềm năng tăng trưởng trong tương lai của Việt Nam, điều quan trọng là phải tìm ra các phương pháp mới để củng cố thể chế và giảm vai trò của các chủ thể liên kết với nhà nước. Hơn nữa, Việt Nam đã nổi lên như một câu chuyện kinh tế hấp dẫn nhất Đông Nam Á. Đó là bởi vì tái cơ cấu kinh tế đã mang lại những lợi ích ấn tượng về sự giàu có, thương mại và đầu tư – tất cả trong khi vẫn giữ nguyên cấu trúc quyền lực cơ bản của đất nước. Tuy nhiên, tái cơ cấu kinh tế thành công cũng góp phần vào thách thức kinh tế chính của Việt Nam hiện nay, cụ thể là làm thế nào để giải quyết ‘trung gian còn thiếu’ – thiếu một khu vực tư nhân trong nước hiệu quả.
Thật vậy, thành công to lớn của Việt Nam trong việc thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn chưa mở ra sở hữu nhà nước rộng lớn hoặc tạo ra mối liên kết giữa các ngành công nghiệp tập trung vào xuất khẩu và phần còn lại của nền kinh tế trong nước. Kết quả là, Việt Nam đã phải vật lộn để gặt hái những lợi ích đầy đủ từ hiệu quả thương mại và đầu tư ấn tượng của mình.”
Theo thiển kiến, sau năm 1975, chế độ độc đảng, chế độ cộng sản, khẩu hiệu “đảng chọn, dân bầu” và quá trình phân phối lao động theo nguyên tắc “hồng hơn chuyên” trong nền kinh tế trung ương hoạch định của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã đưa nền kinh tế đến khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng đe dọa sự tồn tại của đảng Cộng Sản và thể chế vào các năm đầu của thập niên 1980. Việt Nam đã đưa ra kế hoạch đổi mới, trong đó trên lý thuyết hoạt động kinh tế theo mô hình trung ương hoạch định được chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, vào năm 1986. Như Busch (2017) cảnh báo, do cố giữ nguyên cấu trúc quyền lực cơ bản của đảng và đảng viên, Việt Nam theo đuổi chính sách kinh tế mà đến nay đã đẩy nền kinh tế lơ lửng trước ngưỡng “bẫy thu nhập trung bình” mà đảng và nhà nước không thể giải quyết.
Việt Nam hy vọng: (i) Được Hoa Kỳ công nhận có nền kinh tế thị trường (ii) Quyết định 1334/QĐ-TTg; và, (iii) Chỉ thị 24-CT / TW sẽ giúp VN thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay và để bảo vệ/giữ gìn ĐCSVN. Những điều nói trên cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn còn quá nhiều vấn đề để có thể đáp ứng các tiêu chí do BTM Mỹ đặt ra. Hà Nội hiểu rất rõ những vấn đề này, nhưng để bảo vệ sự trường tồn và quyền lực của Đảng nên cố gắng che giấu hoặc che đậy chúng, vận động hành lang mạnh mẽ và làm những gì lịch sử cho thấy họ rất khéo léo trong việc làm: cố tình hứa hẹn và cam kết, nhưng, sẽ không hoàn thành nghĩa vụ của họ.
Về phía Mỹ: thế giới hỗn loạn hiện nay; Đặc biệt, vấn đề Ukraine, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và vấn đề Tây Thái Bình Dương đã làm đứt gẫy toàn bộ chuỗi cung ứng quốc tế, gây khó khăn không nhỏ cho nền kinh tế Mỹ dẫn đến áp lực tư duy thực dụng của người dân Mỹ. Trong ngắn hạn, Việt Nam có thể lấp một phần quan trọng của chuỗi cung ứng quốc tế (bằng cách dựa vào đầu vào, có thể là sản phẩm cuối cùng nhập khẩu bất hợp pháp, từ Trung Quốc).
Do đó, Hà Nội thừa hiểu rằng Mỹ có thể phải chấp nhận một số giải pháp thứ cấp trong một số thành phần trong chính sách ngoại giao trực thăng vận (helecopter foreign policy) của mình để giảm bớt các vấn đề kinh tế vĩ mô trong nước và giữ cho Việt Nam không rơi xa hơn vào Trung Quốc. Tuy nhiên, giải pháp thứ cấp nguy hiểm nhất đối với Mỹ là nhìn nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, bởi một khi đã được thông qua, rất khó để rút lại khi Hà Nội không thực hiện đúng cam kết của mình. Rất có thể là nếu tình huống trở nên nghiêm trọng, Mỹ có thể chấp nhận giải pháp thứ cấp này.
Tuy nhiên quy chế tối huệ quốc (Most Favorite Nation, MFN) đối với Trung Quốc, Hiệp định Paris, các cam kết của VN trong CPTPP, PCA là những bằng chứng mà Mỹ đã trải nghiệm đối với các thể chế độc đảng, toàn trị. Do đó, Hà Nội nên nên suy ngẫm chân lý của câu nói của Tổng Thống thứ 16 của Mỹ, ông Abraham Lincoln, rằng: “Bạn có thể đánh lừa một số người mọi lúc, và tất cả mọi người một số lúc, nhưng bạn không thể đánh lừa tất cả mọi người mọi lúc.”, trong các dự án hay kế hoạch trong những tháng năm tới để có thể được BTM Mỹ mang ra khỏi danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường.
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 1)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 2)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 3)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 4)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 5)
Tài liệu tham khảo
- Busch, M. 2017. The missing middle: A political economy of economic restructuring in Vietnam. Lowy Institue, Victoria State Government (December, 2017). Busch_A political economy of economic restrucuring in Vietnam_WEB (1).pdf.
- ĐÀI Á CHÂU TỰ DO-RFA .2024. https://www.Đài Á Châu Tự Do-ĐÀI Á CHÂU TỰ DO-RFA.org/vietnamese/in_depth/does-vietnam-have-a-market-economy-or-not-what-does-the-us-say-how-does-vietnam-defend-07102024122141.html
- ĐÀI Á CHÂU TỰ DO-RFA .2024. Cuộc đàm thoại với GS. Nguyễn Văn Chữ về Việt Nam và Kinh Tế Phi Thị Trường: https://youtu.be/XMwYPSiwNZA.
- IMF. 2023. Vietnam: 2023 Article IV Consultation-Press Release; Staff Report; and Statement by the Executive Director for Vietnam. IMF Country Rport No. 23/338 (September 27, 2023). https://www.imf.org. Truy cập vào ngày 15, tháng 1, năm 2024.
- IMF. Direction of Trade Statistics (DOTS). https://data.imf.org. Truy cập vào ngày 15, tháng 1, năm 2024.
- Keynes, J. M. 1936. The General Theory of Employment, Interest and Money. McMilllan, London.
- Nguyen, C. V. 2015-a. Vietnam needs to bring the dong down. East Asia Forum Economics, Politics and Public Policy in East Asia and the Pacific, 4th July, 2015. http://www.eastasiaforum.org.
- Nguyen, C.V. 2015-b. The Vietnamese lending rate, policy-related rate, and monetary policy post-1997 Asian financial crisis. Cogent Economics & Finance (2015), 3: 1007808. http://dx.doi.org/10.1080/23322039.2015.1007808.
- Nguyen, C.V., Hiệp, N.P., Lộc, N.B. 2021. Một Góc Nhìn Về Chiến Tranh “Mậu Dịch” Mỹ-Trung Và Hệ Quả Đến Việt Nam. Nhóm Việt 2000, Houston, U.S.
- Nguyen, C.V. 2024. Quyết Định Số 1334/QĐ-TTg Qua Lăng Kính Kế Sách Phát Triển Kinh Tế, Ngoại Thương VN, và Suy Tư Về Trách Nhiệm Của Việt Kiều (Kỳ I và II). Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Việt – Mỹ, Đại học Oregon.
11. Phương Dung 2024. 134 doanh nghiệp Nhà nước lỗ hơn 115.000 tỷ đồng. VNEXPRESSS, thứ sáu, 11/10/2024. https://vnexpress.net/
12. Thu Lan, P. T. 2017. Tại sao đình công ở Việt Nam luôn là tự phát? Column.global-labor-university.org, Number 290, November 2017. University of the Witwatersrand, Johannesburg, South Africa.
13. Tri Duc 2024. Vietnam has ‘all the basics’ of a market economy: US-ASEAN business council. The Investor: VAFIE Magazine (July 24, 2024). https://theinvestor.vn/vietnam-has-all-the-basics-of-a-market-economy-us-asean-business-council-d11386.html
Bạn có thể thích
Giáo sư Sử Học Phạm Cao Dương
Giáo Sư Sử Học Nguyễn Thế Anh (1936-2023)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 5)
Thuyền nhân Việt Nam ở Isarel
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 4)
Tư liệu lịch sử: Hốt xác đồng bào tử nạn trên ‘Đại Lộ Kinh Hoàng’ 1972
Kinh tế Việt Nam từ 2010 đến 2023 và con đường phía trước (phần A)
“Người cộng sản” Ngô Đình Nhu – Điểm sách “Cộng đồng không tưởng tượng: Chủ nghĩa đế quốc và văn hóa ở miền Nam Việt Nam”
Tư liệu: Thư Trần Phú gửi Quốc tế cộng sản, phê phán Nguyễn Ái Quốc 17-4-1931
Vụ án Nhân văn Giai phẩm: Thụy An, một số phận bi thảm
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VIỆT MỸ
-
Tư liệu lịch sử4 năm trướcTư liệu lịch sử: Hốt xác đồng bào tử nạn trên ‘Đại Lộ Kinh Hoàng’ 1972
-
Kinh tế - Chính trị2 năm trướcKinh tế Việt Nam từ 2010 đến 2023 và con đường phía trước (phần A)
-
Lịch sử Việt-Mỹ6 năm trước“Người cộng sản” Ngô Đình Nhu – Điểm sách “Cộng đồng không tưởng tượng: Chủ nghĩa đế quốc và văn hóa ở miền Nam Việt Nam”
-
Kinh tế - Chính trị6 năm trướcTư liệu: Thư Trần Phú gửi Quốc tế cộng sản, phê phán Nguyễn Ái Quốc 17-4-1931
-
Kinh tế - Chính trị6 năm trướcVụ án Nhân văn Giai phẩm: Thụy An, một số phận bi thảm
-
Kinh tế - Chính trị2 năm trướcKinh tế Việt Nam từ 2010 đến 2023 và con đường phía trước (phần B)
-
Kinh tế - Chính trị2 năm trướcKinh tế Việt Nam từ 2010 đến 2023 và con đường phía trước (phần C)
-
Tư liệu lịch sử3 năm trướcVIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG
