Connect with us

Chưa được phân loại

Những ngày tết cuối cùng của VNCH qua tư liệu báo chí năm 1975 (Phần 3)

Ngô Thị Quý Linh

Published on

[Ảnh trên báo Tiền Tuyến, ngày 6-2-1975: ĐÃ THẤY XUÂN VỀ – Những thiếu nữ đã đi chọn hoa tại đường Nguyễn Huệ. Nhìn Hoa biết nói và Hoa thiên nhiên lòng người bỗng rộn rã như đã thấy Xuân về. (Ảnh THANH HUY)] 

Ngô Thị Quý Linh 

Tết Ất tị 2025

 

LUẬT TỔNG ĐỘNG VIÊN 

Chính Luận 11-1-1975 

Trong một nước đang chiến tranh, vấn đề tổng động viên là một trong những vấn đề sinh  tử của quốc gia. Dư luận rất xôn xao về vấn đề này. Khi Hội Đồng Văn Hóa mổ xẻ Luật Tổng  Động Viên, dư luận đồng ý rằng đó là “dụng cụ chính trị, lưỡi gươm trên đầu giới trẻ”. (Chính  Luận 11-1-1975)  

Sáng ngày 9-1-1975, Hội Đồng Văn Hóa có buổi họp thảo luận về Luật Tổng Động Viên.  Giáo sư Nguyễn Hải Bình, khoa trưởng trường Kinh Thương Minh Đức thuyết trình trước Hội  Đồng đề tài “Chế độ quân dịch và giáo dục đại học”. Theo giáo sư Hải Bình, Luật Tổng Động  Viên đương thời đã đưa đến những ảnh hưởng như sau đối với nền giáo dục đại học: 

  1. “Bất quân bình về cơ cấu: Tình trạng động viên tại chỗ vì lý do học vấn khiến sĩ số sinh viên đại học tăng vượt mức (trong vòng 14 năm tăng 800%. Niên khóa 1961- 1962 có 15.000 sinh viên – Niên khóa 1974-1975 số sinh viên lên đến trên 135.000).” 

Theo giáo sư Hải Bình, sự kiện số sinh viên gia tăng đến 800% trong khi dân số chỉ gia  tăng có 40% khiến quốc gia không thể cung cấp cho giới trẻ một nền học vấn “xứng đáng và đầy  đủ”. 

  1. “Bất quân bình về việc đào tạo tài năng: Tình trạng động viên tại chỗ có phần nào bóp  méo cơ cấu đào tạo thanh niên trong tương lai. Theo giáo sư Bình, chính cái ám ảnh  phải thi hành nghĩa vụ quân dịch mà hầu hết sinh viên chọn lựa các phân khoa có học  trình dài (Luật, Văn khoa…) vì các phân khoa này ngoài bốn năm cử nhân còn có 

thêm hai năm cao học, chứ không chịu chọn lựa kỹ thuật, những môn học đóng góp  cho sự phát triển quốc gia nhưng chỉ được hoãn dịch có bốn năm trời.” 

Giáo sư Hải Bình dẫn chứng số lượng chuyên viên tốt nghiệp các ngành trong thời gian  từ 1954 đến 1971. 

– Bác sĩ có 1.500, cán sự y tế 3.900, tỷ lệ ½ 

– Kỹ sư điện: 237, cán sự điện 177, tỷ lệ 2/1 

– Kỹ sư công chánh: 430, cán sự 744, tỷ lệ ½ 

Theo giáo sư Đỗ Bá Khê, một kỹ sư cần năm cán sự. Giáo sư cho biết có sự bất quân  bình giữa số sinh viên tốt nghiệp các đại học nhân văn và kỹ thuật. Theo giáo sư Đỗ Bá Khê, từ niên khóa 1954 đến niên khóa 1971, có tất cả 5.200 sinh viên tốt nghiệp khoa học nhân văn,  3.300 giáo sư và cử nhân khoa học, 1.000 kỹ sư và 1.500 bác sĩ.

44 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Theo giáo sư Hải Bình, “chính ảnh hưởng của chế độ quân dịch đưa các đại học cộng  đồng không phát triển đúng với nhu cầu địa phương và không đóng góp gì được nhu cầu chuyên  viên trung cấp”. 

  1. “Phẩm chất mỗi ngày mỗi thấp. Với sĩ số quá đông, đưa đến tình trạng gần đây sinh  viên không thể đến trường, không mua giảng văn của giáo sư mà chỉ mua phần tóm  tắt giảng văn của các trung tâm quay cours, trung tâm ghi danh… làm sao phẩm chất  đại học không mỗi ngày một tuột dốc. 

Với các sinh viên tốt nghiệp, bóng “ma” quân dịch còn ám ảnh dữ hơn nữa, tốt nghiệp  xong làm sao kiếm ra việc làm, nếu không muốn phải đi lính suốt đời. Đây chính là những sơ hở đưa đến các tệ đoan xã hội. 

  1. Sự sai lệch cơ cấu nhân dụng phân chia giữa khu vực công và tư. Các sinh viên tốt  nghiệp phần lớn đi tìm việc tại các cơ quan công quyền vì chỉ có ở đó mới xin được  động viên tại chỗ. Kết quả khu vực trẻ thiếu chuyên viên làm sao phát triển? 
  2. Ảnh hưởng quân dịch khiến các sinh viên kém may mắn phải vào Thủ Đức có mặc  cảm thua kém, với viễn tượng không biết ngày về, trong tâm trạng đó làm sao họ là những sĩ quan gương mẫu, lý tưởng, hướng dẫn tinh thần binh sĩ. 
  3. Ảnh huởng quân dịch đối với quân đội. Công kích luật Tổng Động Viên hiện hữu  không chỉ làm suy giảm lý tưởng, đức tính tự tin của người sĩ quan mà còn khiến họ khó có thể thích nghi với đời sống sau khi giải ngũ (hầu hết bị động viên khi chưa có một nghề trong tay). Làm sao cung ứng cho họ những kiến thức chuyên môn cần thiết  để họ có thể nuôi sống gia đình? Đó là chưa kể gánh nặng hưu bổng cho quốc gia (với  hơn một triệu quân nhân, số hưu bổng quốc gia phải gánh chịu là điều rất nan giải).  Thêm vào đó là sự sử dụng tài nguyên không công bằng: năm 73 dân số 20 triệu  người trong đó lớp tuổi (tính riêng phái nam) từ 20 đến 29 là 1.900.000. Vậy nếu  Tổng Động Viên quân đội ít ra cũng phải có 1 triệu 900 ngàn quân tại sao chỉ có 1  triệu 100 ngàn kể cả số người thuộc lớp tuổi dưới 20 và trên 39? Chính đây là một bất  công, chính sự chước miễn cho 800 ngàn người trên đã uốn nắn cơ cấu xã hội không  phù hợp với nhu cầu phát triển và nhu cầu tạo dựng tinh thần binh sĩ cũng như tinh  thần hậu phương.” 

Giáo sư Nguyễn Hải Bình trình bày hoàn cảnh ở Nam Việt Nam, “[x]ác định quốc phòng  vẫn là một ưu tiên, nhưng cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến toàn diện và dai dẳng không biết  bao giờ mới dứt, do đó vừa phải đáp ứng nhu cầu chiến tranh lại vừa phải tiếp tục sống với tất cả nhu cầu thiết bách hàng ngày: phải sản xuất để nuôi 20 triệu dân, phải giải quyết các vấn đề xã hội càng ngày càng chồng chất, vừa phải tái thiết và phát triển quốc gia đào tạo những tài năng  lèo lái, lãnh đạo quốc gia trong tương lai.” 

Giáo sư Bình đề nghị: 

  1. “Không giảm quân số vì cần phải điều nghiên xác thực không thể nói một cách viển  vông. 
  2. Với hàng trăm ngàn tân khoa Tú tài mỗi năm, tài nguyên sĩ quan mỗi năm rất nhiều  có thể thỏa mãn nhu cầu dễ dàng nếu có sự đóng góp đồng đều, do đó nên:

45 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

a/ bãi bỏ chước miễn, tất cả mọi người thuộc lớp tuổi đều phải nhập ngũ đồng đều  ngoại trừ lý do thiếu sức khoẻ và tu sĩ. 

b/ ấn định một thời gian quân dịch nhất định là 24 tháng, sau đó cho xuất ngũ để ở trong tình trạng trừ bị tại gia.  

c/ tổ chức lại chế độ quân sự học đường trên căn bản tự nguyện. Những thanh niên  nào theo học quân sự học đường có kết quả, sẽ được đào tạo tại trường sĩ quan, còn  không phải nhập ngũ với tư cách tân binh quân dịch.” 

Buổi tối, các hội viên bàn thảo để đưa khuyến cáo hoặc làm thỉnh nguyện lên chính phủ.  Theo Hiến pháp, quyền của Hội Đồng Văn Hóa là quyền khuyến cáo. 

Trong buổi họp, các hội viên đã nêu lên một số điểm cần chú ý trước khi khuyến cáo  hoặc làm thỉnh nguyện lên chánh phủ. 

Giáo sư Uông Đại Bằng và một số hội viên khác cho rằng “chế độ quân dịch hiện tại tạo  bất công tham nhũng, không phù h ợp với chiến tranh Việt Nam, đã g ọi là Tổng Động Viên mà  còn chấp nhận những hoãn dịch vô lý (hoãn dịch học vấn, kỹ thuật được miễn một tuổi trong lúc  phổ thông thì không).”  

Giáo sư Uông Đại Bằng yêu cầu “Luật Tổng Động Viên phải được thay thế bằng luật  nghĩa vụ quốc gia, nghĩa là phải ấn định thời hạn và đáp ứng nhu cầu toàn diện của quốc gia giúp  giới trẻ có thể phác họa tương lai của mình.” 

Giáo sư Nguyễn Hữu Lành đưa vấn đề: “luật Tổng Động Viên nhằm mục tiêu chính trị hơn là quốc phòng, vì luật Tổng Động Viên chính là lưỡi gươm treo trên đầu giới trẻ, khiến giới  trẻ cúi đầu trước “lưỡi gươm” động viên tại chỗ dù bất mãn với xã hội xung quanh.” 

Ông Nguyễn Văn Tỏ cho rằng “phải chấp nhận chước miễn để chứng tỏ cho thế giới biết  là Việt Nam đang phát triển đủ cả văn lẫn võ” và gia giảm tuổi cho học sinh. Ông Lê Vĩnh “phản đối đề nghị bắt tất cả thanh niên đến tuổi phải động viên hai năm của  thuyết trình viên và cho rằng: ngọc quý mà qua thời gian hai năm lính tráng sẽ mất quý đi, sẽ hư hỏng đi…” 

Giáo sư Võ Long Tê đưa ý kiến của ông, đề nghị “phải đặt Luật Tổng Động Viên trong  khung cảnh pháp lý và nhu cầu quốc gia, đồng thời nhấn mạnh “Quân Đội là trường huấn luyện,  đào tạo thanh niên tốt nhất, ngay trong thời bình cũng nên gửi thanh niên vào quân đội một thời  gian.” 

Một khuynh hướng sau cùng được đưa ra là: “Tại Việt Nam, chiến tranh trường kỳ nếu  đã gọi là Tổng Động Viên thì phải Tổng động viên toàn dân, lấy học đường, lấy nông trường, lấy  chiến trường làm quân trường”, chứ không phải chỉ thực hành việc động viên hai năm như Do  Thái, Ả Rập.

46 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Chính Luận 1-2-1975 

Theo dư luận đương thời, chánh sách động viên bị xem là chưa công bằng và hữu hiệu.  Sau vụ Phước Long thất thủ, chính phủ dự trù thay đổi chánh sách động viên. Báo Tiền Tuyến mở ra mục “Tiếng Nói Động Viên” để trả lời những thắc mắc về việc động viên tại chỗ, hoãn dịch, hoặc nhập ngũ.  

Trên ngôn luận báo chí, một trong những người đóng góp ý kiến thiết thực vào chánh  sách động viên đương thời là nhà bỉnh bút báo Chính Luận, Trần-Triệu-Việt. Từ lâu, chánh sách động viên bị xem là không công bằng. 

Vấn đề làm sao cho chánh sách động viên được “công bằng” được xem là quan trọng hơn  cả. Ký giả đưa ra một vài ý kiến vào “công việc cần làm nếu cần đạt tới sự công bằng tuyệt đối”.  Ký giả nhận xét thấy những điều sau đây: 

– “Có nhiều người được hoãn động viên trong những thời dễ dãi trước đây, để học  hành, học thành tài rồi đoạt ngay được chức vị để xin hoãn động viên dài dài, vậy thì tất cả những người đó có được gọi động viên trước tiên không? 

– Có những người trốn lính (kể cả những trí thức từ ngoại quốc về, trốn tránh dài dài)  cho đến khi đạt tới hạn 40 tuổi mới xuất đầu lộ diện (như làm căn cước), những người  đó có được gọi đi không? 

– Những người trốn lính không phải là ít. Một việc mà ai cũng biết: mỗi khi có những  cuộc xét hỏi, ở vài đường phố bên Chợ Lớn, thanh niên chạy trốn rần rần từ trước khi  lính tới và lính không sao có sự tận tâm để xét hết các ngóc ngách thật rắc rối ở những khu phố đó. 

– Lính kiểng nhiều vô kể. Cứ việc đóng số lương của mình là được giấy phép dài dài ở hậu phương.Theo các người lính, có rất nhiều thanh niên bị chận hỏi mà có giấy phép  đàng hoàng của đơn vị trưởng. 

Chưa hết. Tòng ngũ tức là góp máu xương, góp mạng sống của mình – Góp mạng  sống là hi sinh tuyệt đối. Trong khi đó, những ai được hưởng sự hi sinh ấy? Chính là những hạng người triệu phú, tỷ phú được tự do phè phỡn ở hậu phương. Trong thật tế,  những hạng người này được hưởng những hi sinh kia, chứ không phải những kẻ nghèo  khổ ăn rau cháo thay cơm, chạy bữa sáng lo bữa chiều, vì họ không có gì để bảo vệ. Nếu  cứ những thanh niên và những người nghèo hi sinh mãi cho những người giàu, thì sao gọi  là công bằng?

47 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Nhà tham luận Trần-Triệu-Việt đưa ý kiến nếu mục đích của chánh phủ là “muốn đạt tới  sự công bằng (dù là có quan niệm chuẩn bị xây dựng đất nước hay không)”, chánh phủ cần có những quyết định sau: 

“1.- Tất cả những thanh niên được học rồi được đậu, để rồi vẫn được động viên tại  chỗ vì chức vụ, thì nay phải được động viên hết (không trừ một chức vụ nào, vì chức vụ nào cũng có thể thay thế được; vả chăng, nếu đã động viên giáo chức, thì các chức vụ khác sẽ không cần thiết bằng giáo chức). 

2.- Phải động viên cả những người đã quá tuổi 40, nếu trong những năm trước đó,  họ đã tránh né động viên. 

3.- Phải thanh toán hẳn nạn lính kiểng, vì không thể chấp nhận những lính đi phép  sống mãi ở các đô thị. 

4.- Phải thanh toán hẳn nạn trốn lính. 

5.- Phải huy động tất cả tài lực và vật lực của những giới giàu, đã nhờ máu xương  thanh niên làm hàng rào che chở cho tài sản của họ. 

Xin hãy biết rằng: họ thà mất hết của cải còn hơn là mất mạng sống, thì trong khi  các thanh niên mất mạng sống, lẽ nào họ được giữ nguyên của cải trong khi tiền bạc của  họ có thể dùng để đền đáp thỏa đáng các chiến sĩ hoặc để mua súng đạn, nhà cửa của họ có thể dùng để binh sĩ và gia đình binh sĩ ở, xe cộ của họ có thể dùng để binh sĩ đi. Đã công bằng thì công bằng hẳn, đừng nhân danh rằng miền Nam này trọng sự tự do tư hữu,  khi mà đất nước đã sử dụng đến của tư hữu quý báu nhất là mạng sống của con người. 

Những lời tâm huyết này có thể làm cho những người giàu bực mình thì cũng xin  các vị nghĩ lại rằng có người góp mạng sống, cũng phải có người góp của. Ít ra những điều 3, 4, 5 phải thực hiện… chứ không phải là cứ lấy thêm lính bừa  mà duy trì các bất công cũ.” 

Ký giả đề nghị “một cách động viên” theo đó người không đi lính phải đóng một số tiền  hằng tháng vào công quỹ để chánh phủ dùng số tiền này tăng lương cho người lính, hoặc thực  hiện các công trình xã hội hữu ích cho gia đình binh sĩ. Đề nghị này được đưa ra vì lý do “…  người ta tin chắc, là sẽ không bao giờ thực hiện được công bằng. Sẽ vẫn có những kẻ trốn lính,  tung tiền và tung quyền ra để tìm cách trốn lính, bằng trăm ngàn cách.” 

Ký giả đưa ra những ví dụ về các trường hợp trốn động viên: “Như ngụ vĩnh viễn ở nhà ông lớn, xin những giấy nhận thực làm những nghề được hoãn động viên, lỉnh ra ngoại quốc,  nhập những quốc tịch ngoại quốc…”, và nhận xét rằng:  

“Càng động viên rộng, càng lắm người trốn lính: hoặc đi lính rồi thì họ bỏ tiền ra  mua những giấy phép; ta có quyền nghĩ rằng càng mở rộng cuộc động viên thì càng nhiều  tiền chui vào túi bọn tham nhũng mà quân lực vẫn bị thiệt hại đều đều vì nạn trốn lính và lính ma lính kiểng. 

Cũng bởi thế mà có người đề nghị một nguyên tắc động viên chưa hẳn công bằng  tuyệt đối, nhưng cũng công bằng hơn hiện tại, đó là nguyên tắc “có tiền thì góp tiền,  không tiền thì góp máu”.

48 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Ký giả nhận định rằng mặc dù việc động viên cần phải công bằng nhưng chánh phủ cũng  cần để ý đến sự xây dựng đất nước, “không thể chiến thắng trong hoang tàn”, và “không thể đảo  lộn cuộc sống nhân dân” vốn đã vất vả vì chiến tranh từ hai thập niên. Ký giả đã thấy trong nhiều  năm, “ngay cả khi chiến tranh ào ạt nhất, miền Nam vẫn có chế độ động viên tại chỗ, dành cho  một thiểu số thanh niên sinh viên và học sinh, để có thể tiếp tục việc học nếu đạt được tiêu chuẩn  19 tuổi phải đậu Tú tài.” 

Vì là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng lớn đến dân chúng, Ủy Ban Quốc Phòng Thượng  Viện mở một phiên họp đặc biệt và kín để nghe phái đoàn Liên Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham  Mưu trình bày về vấn đề động viên nhân lực và vấn đề quân số thực hiện trong Quân Lực Việt  Nam Cộng Hòa. (Chính Luận 19-1-1975) 

Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu đang đưa những đề nghị động viên mới vì chiến  trường vừa trở nên sôi động từ cuối năm 1974. 

“Chiều 25 mất Tánh Linh. Sáng 26 mất Đồng Xoài. 

Biên Hòa, Củ Chi, Tây Ninh, Phú Giáo bị pháo.” 

SAIGON, 27-12. – Phát ngôn viên quân sự sáng nay loan báo, Cộng quân có chiến xa  dẫn đầu đã chiếm quận lỵ Đôn Luân (Đồng Xoài) thuộc tỉnh Phước Long hơn 100 cây số Bắc  Saigon hôm thứ Năm. Như vậy tất cả quận lỵ của Phước Long đều bị thất thủ chỉ còn có tỉnh lỵ Phước Bình là ở trong tay quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Phát ngôn viên cho biết Phước  Bình đã được tăng viện nhưng quân tăng viện không có Dù hay Thủy Quân Lục Chiến. 

Chính Luận 28-12-1974 

Ngày 1-1-1975, quận lỵ chót của Phước Long thất thủ. Căn cứ Bà Rá, đồn An Lương và một trại Địa Phương Quân cách trung tâm tỉnh lỵ Phước Long từ 700 đến 4.000 thước đã thất thủ một ngày sau khi quận lỵ Phước Bình thất thủ. 

Trong nhiều ngày liên tiếp, Dinh Độc Lập có các cuộc họp của Hội Đồng Chính Phủ với  các tướng lãnh Bộ Tổng Tham Mưu, Tư lệnh các Quân khu và Binh chủng về vấn đề quân sự.

49 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

CHIẾN SỰ LEO THANG 

Ngày 10-1-1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nói chuyện trên hệ thống truyền thanh và truyền hình về Phước Long và loan báo: “Cộng sản đã thật sự mở cuộc tổng tấn công.” 

Chính Luận 8-1-1975 

Ngày 8-1-1975, báo Chính Luận đăng tin: “Lần đầu tiên kể từ Hiệp Định Ba Lê được ký kết, nổ tại tư dinh Mỹ ở Tuy Hòa, một viên chức chính trị Mỹ tử thương.” Nạn nhân trong vụ nổ tại Tuy Hòa tên là William Bennett, 36 tuổi, có gia đình: vợ và ba con, sống tại Springfield,  Virginia, Hoa Kỳ. Một quả bom nổ chậm bị gài lén vào căn phòng chứa thực phẩm tại tư dinh  ông Bennett. 

MẶT TÂY QUÂN KHU 3: Tây Ninh đang là mối quan tâm lớn của VNCH. Cộng quân sau khi  chiếm được núi Bà Đen đã đặt súng cối đều đặn rót vô tỉnh lỵ. Dân chúng kẻ trước người sau dùng  đủ mọi phương tiện tự tìm nơi an toàn tránh lửa đạn. 20 chiến xa Cộng sản đang dàn thế tấn công  và chiến xa Việt Nam Cộng Hòa cũng đang chờ sẵn tại các điểm quan yếu quanh tỉnh. 

Sóng Thần 10-1-1975

50 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

MẶT ĐÔNG QUÂN KHU 3: Các trận đánh vẫn kéo dài tại Bình Tuy, một địa điểm mà giới quan  sát cho là Cộng quân muốn dùng làm một cửa khẩu thông ra biển sau khi đặt được hành lang chạy  dài từ biên giới Kam Pu Chia tới vùng duyên hải. Các lực lượng cơ giới Việt Nam Cộng Hòa hiện  đang kéo tới tăng viện Hoài Đức chuẩn bị một trận đánh kéo dài. (Sóng Thần 10-1-1975) 

Báo Chính Luận ngày 11-1-1975 cho biết tin: “Phía Lộc Ninh tiếp tục bị bom – chiến sự Bình Định nổ lớn. … Không lực VNCH tiếp tục các phi vụ oanh tạc các vùng của Cộng sản tại  phía tây bắc tỉnh lỵ Phước Long.” Nhiều tin tức tiếp theo cho biết: 

Tại Gia Định lúc 6 giờ sáng nhà máy phát điện Thủ Đức phát nổ, điện tắt một tiếng đồng  hồ, nguyên nhân chưa rõ. 

Cộng quân đột nhập vào Nam Gò Vấp đoạt của Nhân Dân Tự Vệ 9 khẩu carbine, 1 khẩu  garant và rải một số truyền đơn kêu gọi Nhân Dân Tự Vệ bỏ súng quy hàng. Biên Hòa bị pháo kích 5 đạn 122 ly gần phi trường, một binh sĩ bị thương. Tỉnh lỵ Phú Cường (Bình Dương) và tỉnh lỵ Tây Ninh bị pháo kích. Một thường dân thiệt  mạng. 

Tại Kiến Tường, Cộng quân dùng mìn phá hư hoàn toàn một giang đỉnh của Ủy Ban  Quốc Tế Kiểm Soát. 

Trụ sở xã và cuộc Cảnh sát Quốc gia xã Hữu Thanh tỉnh Vĩnh Long bị tấn công. Một  thiếu úy và ba cảnh sát viên bị bắt dẫn đi. 

Về phía Việt Nam Cộng Hòa, Không lực “oanh kích ác liệt tại bốn tỉnh Pleiku, Kontum,  Phước Long, Bình Tuy”, phá nổ hai kho đạn và bắn cháy năm bồn nhiên liệu của Cộng sản.

51 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

CHIẾN SỰ SÔI ĐỘNG KHẮP NƠI: Phi trường Biên Hòa nhộn nhịp trở lại với các phi xuất F5  oanh tạc Lộc Ninh để trả đũa vụ cộng quân chiếm Phước Long. Trong khi đó, dân chúng tại Hoài  Đức (Bình Tuy) tiếp tục di tản ra khỏi vùng giao tranh. (Sóng Thần 12-1-1975) 

Sóng Thần 12-1-1975 

Câu chuyện ly kỳ, hay là “một phép lạ”, đã xảy ra cho một đoàn hơn 2.000 đồng bào nạn  nhân chiến cuộc Quảng Trị định cư tại quận Tánh Linh (Bình Tuy) phải chạy tỵ nạn một lần nữa  về tạm trú tại Long Thành. Câu chuyện đã được Đại Đức Trừng Ninh, đại diện Giáo hội Phật  giáo quận Tánh Linh, kể lại cho phóng viên Thu Bình báo Sóng Thần

“Đại Đức cho biết khi cuộc chiến bùng nổ khốc liệt tại quận Tánh Linh, hơn  2.000 phật tử đã dùng cờ Phật giáo đi đầu mở đường, vượt qua hàng chục chốt đóng quân  “cài răng lược” giữa phe quốc gia và cộng sản. Cờ Phật giáo lồng lộng bay giữa bom đạn  lửa bốc mịt trời tìm sinh lộ cho đoàn người vô tội. Và cũng nhờ Giáo kỳ này mà quân hai  phe đối nghịch được chú ý để cho tầm bom đạn tránh xa. Tuy vậy, đoàn người nạn nhân  chiến cuộc chạy chối chết cũng gặp nhiều khó khăn trên bước đường tử lộ suốt 62 cây số 

ngàn, do hai phe ngăn lại hạch hỏi. Sau đây là lời đối thoại giữa Đại Đức trưởng đoàn tỵ nạn với cấp chỉ huy hai bên:

52 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Gặp toán quân “giải phóng”, 2.000 nạn nhân chiến cuộc bị chặn khựng lại, cấp chỉ huy Cộng sản thét lớn: 

– Chạy đi đâu, “theo ngụy” hả? 

Đại Đức Trừng Ninh tay trương cao Giáo kỳ trước đoàn đồng bào bồng bế dắt dìu  nhau đáp rằng: 

– Quân “cách mạng” đã tràn vào Tánh Linh, và họ bảo chúng tôi chạy đi để chờ “giải phóng” xong rồi trở về. 

Nghe ngôn từ … cách mạng, giải phóng như vậy viên chỉ huy toán Cộng sản nở nụ cười khoát tay cho đoàn người tiếp tục chạy. 

Đến chốt toán quân chính phủ trấn đóng, đoàn người lại bị viên Tiểu đoàn trưởng  ra lịnh cho toán lính án ngữ giữa đường, và quát: 

– Chạy đâu! Hãy lui trở lại vì đường đã gài đầy lựu đạn và mìn rồi. 

Đại Đức Trừng Ninh với tư thế của một trưởng đoàn liều lĩnh giữa cái chết và sự sống vô cùng mong manh nói: 

– Chúng tôi là dân lành thuộc vùng quốc gia bị Cộng sản lấn chiếm, nay chạy đi  tìm đất sống. 

Viên Tiểu đoàn trưởng vẫn nghi ngờ có một số Cộng quân trà trộn vào hàng ngũ dân tỵ nạn nên vẫn quyết định không mở lối đi. 

Lúc đó, bom và đạn pháo kích vẫn nổ rền chung quanh đoàn đồng bào rách rưới  với nét mặt hằn đầy nét kinh hoàng. Đại Đức Trừng Ninh tức tốc cúi xuống một tay giữ vững cờ Phật giáo, tay kia cầm chặt trái lựu đạn gài trên mặt đường giơ cao. 

– Chúng tôi là người quốc gia nếu không cho đồng bào đi, chúng tôi thà chết  trước những trái lựu đạn gài trên đường này. 

Trước hành động táo bạo và đầy hy sinh của Đại Đức đoàn trưởng, viên Tiểu  đoàn trưởng đành cho đoàn người tiếp tục tránh xa vùng lửa đạn. 

Cứ như thế cả chục lần 2.000 đồng bào Tánh Linh tiếp tục trương cao cờ Phật  giáo, một biểu tượng của sự Hòa Giải để vượt thoát tử thần chiến tranh. Và may mắn làm  sao suốt 62 cây số ngàn đoạn đường liên tỉnh lộ không có một đồng bào nào thiệt mạng  dọc đường.” 

Về đến nơi an toàn, Đại Đức Trừng Ninh về chùa Ấn Quang để báo cáo hoàn cảnh đồng  bào nạn nhân chiến cuộc với Hòa Thượng Viện trưởng Trí Thủ xin Giáo hội trung ương cứu trợ đồng bào.

53 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

“Những hình ảnh mới nhất về thành phố Tây Ninh, sau khi núi Bà Đen thất thủ: 

Dân chúng lo di tản, phố xá vắng hoe với những cửa tiệm đóng kín.” 

– Ảnh Thanh Huy 

Sóng Thần 14-1-1975 

Sóng Thần 14-1-1975 

Một tuần sau khi Phước Long thất thủ, tin trên báo Sóng Thần cho biết “chiến trận lan  gần về Sài Gòn – Xáp chiến nhiều đợt tại vòng đai Gia Định – Tiểu đoàn đặc công 316 Cộng sản  lọt vô thủ đô – Quốc lộ 4 đi miền Tây bị cắt đứt tại bắc Giáo Đức – Bốn tỉnh Mỹ Tho, Kiến  Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Bình nhất loạt bị Cộng sản pháo tấn dữ dội – Mới có 1.476 người chạy  thoát khỏi Phước Long về lánh nạn tại Bình Dương – Quảng Đức”.

54 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Những gì còn lại của quận Hoài Đức sau những trận đánh cù cưa của hai phe. (Ảnh Đại Nam)” Sóng Thần 15-1-1975 

Sóng Thần 17-1-1975 

Tin tức trên Sóng Thần cho biết thêm: “Vòng đai Saigon vẫn trong không khí căng thẳng:  Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung bị pháo: 35 khóa sinh thương vong – Hóc Môn cũng lãnh  ba hỏa tiễn, 11 thương vong – Ác chiến tiếp tục tại Qui Nhơn, Thừa Thiên, Mộc Hóa – Không  quân bom dữ dội mật khu Cộng sản Bình Tuy.”

55 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Hình 1: Nạn nhân của lửa đạn Tây Ninh đang được giải phẫu nhưng y sĩ đã làm việc với  chiếc nón sắt trên đầu. 

Hình 2: Con ôm xác cha khóc ngất không còn là một cảnh hiếm hoi (ảnh Anh Phi) Hình 3: Đức Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa họp báo kêu gọi hai phe dùng đất Thánh làm nơi họp hòa giải. Hình 4: Hậu quả vụ pháo kích tại Hóc Môn. 

Sóng Thần 18-1-1975 

Sóng Thần 18-1-1975

56 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

Chính Luận 23-1-1975 

Sóng Thần 23-1-1975 

Hai tuần trước Tết, tin tức chiến sự gia tăng ở nhiều nơi: “Cộng sản tăng áp lực trên ba  mặt trận:  

– Kiến Tường: năm quận lỵ bị Cộng sản vây hãm, tỉnh lỵ nghẹt thở dưới mưa bom – Tây Ninh: Không lực Việt Nam xuất trận hơn bốn mươi lần oanh tạc dữ dội Núi Bà Đen 

– Vĩnh Long: ba cứ điểm bị tấn công lớn; Quận Trà Ôn báo động đỏ.” 

Sóng Thần 25-1-1975 

“Núi Bà Đen bốc cháy – Không Quân trút bom lửa lên tuyến Cộng sản – Đổ lính  Dù xuống chân núi – Cộng sản trả đũa bằng mưa pháo vô thành phố Tây Ninh và các trục  tiến quân của Việt Nam Cộng Hòa.”

57 HỒI TƯỞNG NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT NĂM 1975 – © 2025 NGÔ THỊ QUÝ LINH 

“Một trại gia binh hoàn toàn sụp đổ vì pháo cộng sản trong khi chợ Tây Ninh vắng hoe, 

không người họp. Dọc quốc lộ, binh sĩ đào hầm cản phòng ngừa chiến xa địch.”  

Ảnh NTA – THANH HUY (Sóng Thần 25-1-1975) 

Ngày 30 tháng Giêng 1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mời chín nhà báo đến ăn sáng  và trình bày những khó khăn của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông cho biết trong thời gian  qua, Hoa Kỳ đã giảm viện trợ “khiến khả năng tác chiến của quân đội VNCH giảm mất 60 phần  trăm”. Tổng thống Thiệu lên tiếng về lý do tại sao tỉnh lỵ Phước Long bị thất thủ: “…nếu VNCH  có đủ máy bay chiến thuật yểm trợ, có đủ trực thăng thì tỉnh lỵ Phước Long đã không bị thất  thủ.” (Chính Luận 1-2-75)

Continue Reading

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VIỆT MỸ