Nguyễn Văn Chữ
Tóm lược:
Mục tiêu của bài viết này là:
(i) lý giải lý thuyết Bàn tay Vô hình của Adam Smith;
(ii) tóm lược những biến chuyển kinh tế, chính trị, xã hội, và công nghệ đã trói Bàn tay Vô hình, vô hiệu hóa sự hữu hiệu của chủ thuyết kinh tế “thị trường” cổ điển theo giả thuyết Bàn tay Vô hình và “cung tạo ra cầu” của Đinh luật Say;
(iii) tóm lược những biến chuyển đưa đến chủ thuyết kinh tế thị trường mới, thuyết giảng và chứng minh rằng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, và công nghệ mới, chính phủ phải dùng công cụ của chính sách tài chính công và tiền tệ để điều tiết hoạt động kinh tế quốc gia;
(iv) do nhu cầu can thiệp của chính quyền, các quốc gia phát triển ngày nay đều có nền kinh tế pha trộn (mixed economy);
(v) Việt Nam với thể chế độc đảng, toàn trị, và nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, dựa vào bản chất pha trộn của các nền kinh tế phát triển để đưa ra những biện minh yêu cầu Mỹ công nhận có nền kinh tế thị trường;
(vi) dựa trên dữ liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF) và chính sách phát triển của thể chế Việt Nam đưa ra giả thuyết tại sao Hà Nội gấp rút yêu cầu Mỹ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường
(vii) liệt kê 6 tiêu chí mà Bộ Thương Mại (BTM) Mỹ căn cứ để xem xét các quốc gia đối tác có “nền kinh tế thị trường” hay không;
(viii) tóm lược luận cứ Hà Nội và thư gửi BTM Mỹ của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN (the US-ASEAN Business Council) về nền kinh tế Việt Nam, và đưa những điều bất cập trên bình diện lý thuyết và thực tiễn đã và đang xẩy ra tại Việt Nam như là những phản biện;
và sau cùng (ix) đưa ra một vài suy tư để thay lời kết.
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 1)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 2)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 3)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 4)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 5)
Tổng quan khác biệt giữa sự can thiệp của quan chức Việt Nam và Mỹ
Trước khi đi sâu vào vấn đề Hà Nội và thư gữi BTM Mỹ của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN nói gì về nền kinh tế Việt Nam, xin dành đôi phút để so sánh mục đích của sự can thiệp vào thị trường của quan chức Việt Nam và quan chức Mỹ. Theo Tiến sỹ Kinh tế Nguyễn Huy Vũ (Radio Free Asia – RFA, 2024), “Hoa Kỳ và các nước tư bản phát triển có chính sách nâng đỡ cả một ngành kinh tế, ở tầm vĩ mô, là hỗ trợ cho cả một ngành, một thị trường, hoặc để thúc đẩy nền kinh tế nói chung, chứ không nhắm đến một doanh nghiệp cụ thể. Do đó, họ chỉ làm chính sách nâng đỡ chứ không can thiệp. Tiến sỹ Vũ (RFA, 2024) cũng chỉ ra rằng tác vụ của chính phủ Mỹ vào thị trường còn có mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, như cấm bán chip tiên tiến cho Trung Quốc.
Trong trường hợp vừa nêu, Việt Nam có thể biện luận rằng Hoa Kỳ làm như vậy, ngay cả trong vấn đề hỗ trợ nghiên cứu thì cũng là can thiệp vào thị trường. Tuy nhiên, Tiến sỹ Vũ (RFA, 2024) phản biện rằng ở đây vẫn có sự khác biệt rất lớn giữa hai quốc gia. Tác vụ của Mỹ là sự can thiệp ở tầm vĩ mô, khác với cách can thiệp của Việt Nam là can thiệp ở tầm vi mô. Chính phủ Việt Nam có thể can thiệp bằng cách cung cấp nguồn lực về tài chính, đất đai cho từng doanh nghiệp nhà nước cụ thể, để những doanh nghiệp này thống lĩnh thị trường, đè bẹp các doanh nghiệp tư nhân khác trong ngành. Nó tạo ra những lợi ích riêng cho một nhóm nào đó hoặc theo đuổi một mục đích nào đó.”
Việt Nam biện minh và Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN yểm trợ yêu cầu Mỹ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường
Trong tài liệu yêu cầu BTM Mỹ duyệt xét để mang Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường, Hà nội đã cố chứng minh rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và quan chức của Việt Nam theo đuổi và cải thiện nhiền măm qua thỏa mãn 6 tiêu chí mà BTM Mỹ căn cứ khi đánh giá yêu cầu của họ. Sau đây là điểm trội của các lập luận của Hà Nội và trong thư của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN gửi BTM Mỹ yểm trợ yêu cầu của Việt Nam để chứng minh mỗi tiêu chí nêu trên của BTM Mỹ:
Tiền tệ của quốc gia đó có thể chuyển đổi
Đối với tiêu chí này, Hà Nội lý giải rằng “đồng tiền của Việt Nam có thể chuyển đổi sang tiền tệ của các nước khác một cách minh bạch dựa trên các nguyên tắc thị trường, công bằng và không phân biệt đối xử. Hà Nội còn tuyên bố rằng Bộ Tài chính (BTC) Mỹ trước đó đã xác nhận Việt Nam không thao túng tiền tệ”.
Đồng thời, thư của Hội đồng gữi BTM Mỹ yểm trợ yêu cầu của Việt Nam lập luận rằng: “Quy định về tiền tệ của Việt Nam xác định rằng VNĐ hoàn toàn có thể chuyển đổi cho mục đích tài khoản vãng lai. Vào cuối những năm 2000, một số công ty của chúng tôi đã gặp khó khăn trong việc chuyển tiền ra khỏi Việt Nam không phải vì các quy tắc đã làm, mà vì không có đủ USD trong hệ thống. Nhưng đó không còn là vấn đề hiện nay nữa. Trong hơn 10 năm qua, không có công ty nào trong số hơn 130 công ty thành viên của chúng tôi làm ăn với Việt Nam báo cáo bất kỳ vấn đề nào về khả năng chuyển đổi tiền tệ.”
Trong khi đó, Bộ Tài chính (BTC) Mỹ chỉ định một đối tác thao túng ngoại hối dựa trên giới hạn của ba tiêu chí cơ bản sau đây:
- Thặng dư thương mại song phương ít nhất là 20 tỷ Mỹ kim (US Dollar – USD) trong giai đoạn 12 tháng.
- Thặng dư tài khoản vãng lai ít nhất 2% tổng GDP.
- Can thiệp một chiều từ phía ngân hàng trung ương khi mua ròng ngoại tệ tổng cộng ít nhất 2% GDP được thực hiện trong khoảng thời gian 12 tháng liên tục.
Hiện nay, Việt Nam vẫn có thặng dư thương mại hơn 130 tỷ USD với Hoa Kỳ, thặng dư tài khoản vãng lai là 5,8% GDP, và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mua ròng số ngoại tệ bằng 1,5% GDP. Do đó, Việt Nam đang vi phạm hai trong ba tiêu chí cơ bản trên nên vẫn nằm trong danh sách cần theo dõi xem có thao túng tiền tệ hay không. Nếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ gia tăng số lượng mua ngoại tệ ròng hơn 0,5% GDP, Việt Nam có thể bị đưa vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ.
Thật ra, chỉ cách đây không lâu, vào Thứ Sáu ngày 16 tháng 4 năm 2021 BTC Mỹ mới đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ nhưng vẫn còn trong những quốc gia sẽ được tăng cường giám sát.
Mức lương của nhân công Việt Nam là kết quả của thương lượng tự do giữa người lao động và quản lý doanh nghiệp
Về tiêu chí này, Hà Nội tuyên bố rằng mức lương ở Việt Nam được xác định qua thương lượng tự do giữa người lao động và quản lý doanh nghiệp. Mức độ tham gia đàm phán tiền lương của chính phủ còn hạn chế.
Trong thư gữi BTM Mỹ để yểm trợ Hà Nội trong lãnh vực này, Hội đồng tuyên bố rằng họ “bác bỏ những tranh cãi ngược lại và nhấn mạnh rằng mức lương ở Việt Nam được xác định bằng thương lượng tự do giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Bộ luật Lao động của Việt Nam có xu hướng ủng hộ người lao động, đặc biệt là người lao động lương thấp, Hội đồng lưu ý rằng chính phủ xác định mức lương tối thiểu dựa trên các khuyến nghị từ Hội đồng Tiền lương Quốc gia.
Tất cả các công ty thành viên của chúng tôi (các công ty ngoại quốc tại Việt Nam) đề nghị trả lương cao hơn mức lương tối thiểu. Các công ty hội viên không có khiếu nại về khả năng tự do đàm phán hợp đồng lao động, bao gồm gói lương và phúc lợi nhân viên, với lao động tại Việt Nam”.
Lập luận và tuyên bố của cả Hà Nội và Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN hoàn toàn không đi đôi với những gì mà Thu Lan (2017), Nguyen, Hiệp, và Lộc (2021), và người viết (RFA, 2024) chỉ ra đã và đang xảy ra tại Việt Nam:
- Theo luật lao động Việt Nam, một cuộc đình công hợp pháp phải thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất, phải tuân theo trình tự quy định trong bộ luật lao động, trong đó không được phép đình công về quyền; và thứ hai, phải do tổ chức công đoàn lãnh đạo.
- Về vấn đề Công Đoàn Độc lập, người viết (RFA, 2024) chỉ rằng Việt Nam đã cam kết với Hoa Kỳ và trong các thương ước EVFTA, PCA (EU-Vietnam Framework Agreement on Comprehensive Partnership and Cooperation, PCA) và CPTPP là sẽ phê chuẩn và tuân thủ Công ước 87 của Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labor Organization, ILO) về tự do lập hội và bảo vệ quyền thành lập tổ chức công đoàn độc lập vào cuối năm 2023. Nhưng nay đã đến gần cuối năm 2024 nước này vẫn chưa tuân thủ. Cho đến nay, Việt Nam vẫn không cho phép thành lập tổ chức công đoàn độc lập trong nước.
- Mới đây, vào ngày 24 tháng 4 năm 2024, Hà Nội bắt ông Nguyễn Văn Bình, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Ông Bình được cho là đang vận động phê chuẩn Công ước 87 của ILO, nhằm bảo đảm cho người lao động quyền thành lập công đoàn độc lập. Vụ bắt giữ ông Nguyễn Văn Bình đánh dấu lần đầu tiên một nhà cải cách của chính phủ bị giam giữ trong những năm gần đây.
- Một nhà hoạt động khác vì quyền của lao động là ông Vũ Minh Tiến, Trưởng phòng Chính sách, Pháp luật của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cũng bị bắt vào tháng 4 năm 2024. Ông cũng được cho là người vận động phê chuẩn Công ước 87 của ILO. người viết (RFA, 2024) cho biết đó là chưa kể đến nhiều nhà hoạt động khác vì quyền lợi của người lao động bị vu oan, phải trốn khỏi Việt Nam hoặc bị bắt, cầm tù với mức án dài hạn.
- Cho đến cuối năm 2020 đã có gần 7.000 cuộc đình công diễn ra trên cả nước nhưng không một cuộc đình công nào hơp pháp; càng thú vị hơn là hầu hết các cuộc đình công này xảy ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (the foreign invested enterprise – FIE) từ các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.
- Thu Lan (2017) chỉ ra các nguyên nhân sau đây để giải thích tại sao tất cả các cuộc đình công đều không hợp pháp và Tổng Liên Đoàn Lao Động VN (TLĐLĐVN) hiện nay không đại diện cho nhân công và cũng không thể tổ chức đình công. “Điều 209 bộ luật lao động quy định ‘việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích’”, được hiểu là: chỉ được phép đình công liên quan tới các tranh chấp lao động phát sinh khi thiết lập các điều kiện lao động mới chưa được quy định trong luật hay trong thỏa ước lao động tập thể hiện hành. Đình công về quyền, tức là các cuộc đình công về các điều kiện lao động đã quy định trong luật, cũng như trong thỏa ước tập thể, bị xem là bất hợp pháp.
- Người viết (RFA, 2024) chỉ ra rằng TLĐLĐVN trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là tổ chức ngoại vi của ĐCSVN. Và Chủ tịch TLĐLĐVN Việt Nam hiện nay là ông Nguyễn Đình Khang – Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam nhiệm kỳ 2015–2020. TLĐLĐVN thay mặt các thành viên tiến hành thương lượng tập thể theo hình thức xin cho.
- Với sứ mệnh của tổ chức chính trị-xã hội, TLĐLĐVN đóng vai trò “cầu nối” giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm nỗ lực xây dựng “quan hệ lao động hài hòa”, bảo đảm thực hiện cả mục tiêu về việc làm và sản xuất. Vì vậy, đình công bị xem là không tạo dựng môi trường ổn định để phát triển đất nước. Ngay cả đối với thương lượng tập thể, công đoàn cũng thực hiện đàm phán, ký kết thỏa ước tập thể để cải thiện quyền lợi cho người lao động theo cách “làm thay” cho người lao động và người lao động không trực tiếp tham gia vào quá trình này.
Những lập luận của Hà Nội và Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN, do cựu Đại Sứ Mỹ, ông Ted Osius, lãnh đạo để biện minh trong tiêu chỉ này khá rỏ nét của lý luận một cách đẩy chốt vuông qua lỗ tròn. Vì cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có công đoàn độc lập mà chỉ được đại diện bởi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nên người lao động không thể thương lượng tự do với quản lý doanh nghiệp.
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 1)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 2)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 3)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 4)
Một Vài Suy Tư Về Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Của Bộ Thương Mại Mỹ Và Chính Quyền Việt Nam (phần 5)