Khủng hoảng nước sạch: một sự cố hay chuyện cơ chế?

Vụ nước sinh hoạt bị nhiễm dầu thải ở Hà Nội lần này có thể sẽ kết thúc bằng việc một số thủ phạm bị kết tội xả thải trái phép, trong đó công ty nước là một nạn nhân. Nhưng chuyện căn cơ hơn cả là cấp nước an toàn về dài hạn rất có thể bị bỏ qua. Vấn đề này đòi hỏi cơ chế phối hợp liên tỉnh, đầu tư cho phúc lợi xã hội và chất lượng quản trị nhà nước.

Chuyện đã bao năm…

Cuộc sống của hàng trăm ngàn người ở Hà Nội vừa bị đảo lộn hoàn toàn khi nguồn nước máy bị ô nhiễm nghiêm trọng, không thể dùng cho sinh hoạt. Để đáp ứng các nhu cầu cơ bản bức thiết, cư dân ở nhiều khu chung cư phải xếp hàng nhiều giờ trong đêm để hứng nước từng từ bồn nước di động. Cảnh tượng này gợi nhớ về một Hà Nội 40 năm trước, dưới mô hình xã hội chủ nghĩa, khi hộ gia đình trong các khu tập thể phải dùng chung nhà vệ sinh và bể nước. Sự cố lần này là do xả thải bất hợp pháp gần hồ Đầm Bài, theo giải thích của công ty cấp nước Viwasupco.

Sự gián đoạn cung cấp nước sạch hoặc thiếu nước không phải là chuyện mới, mặc dù Việt Nam khá dồi dào về nguồn  nước ngọt, với mạng lưới dày đặc sông suối và hồ chứa nước ngọt. Hàng ngàn hộ gia đình ở khu vực Tây Nam bộ, trải dài từ Long An đến Sóc Trăng, Bến Tre và Kiên Giang, phải đối mặt với tình trạng thiếu nước suốt mấy năm qua vào mùa khô. Tình huống tương tự cũng thường xảy ra ở Đà Nẵng, một thành phố phát triển nhanh ở miền Trung. Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố lớn nhất với dân số 10 triệu người, cũng đối mặt với nguy cơ thiếu nước cao trong mùa khô.

Hiện tại, không có công ty nước nào ở Việt Nam có bể trữ nước sạch với dung lượng đủ lớn để cung cấp cho khách hàng quá vài ngày. Nếu một sự cố tương tự xảy ra với bất kỳ công ty cấp nước nào khác, khiến công ty phải dừng lấy nước thô đầu vào, thì người dân vùng đó cũng sẽ phải chịu cảnh thiếu nước tương tự.

Việc bảo đảm an toàn nước sạch cho người dân đòi hỏi tầm nhìn, trách nhiệm và đầu tư lớn từ phía nhà nước và đơn vị cung cấp. Công ty cấp nước sinh hoạt phải chứng minh hiệu quả hoạt động của mình qua khả năng xử lý các sự cố ô nhiễm nguồn nước đầu vào, ví dụ như đổ dầu thải hay nhiễm hoá chất độc hại. Câu hỏi đơn giản là: họ có thể tiếp tục cung cấp nước an toàn cho khách hàng trong bao lâu trong khi đang chờ xử lý sự cố? Trong trường hợp xấu nhất, họ có thể cung cấp nước sạch cho bao nhiêu hộ gia đình, trong bao nhiêu ngày, thông qua hệ thống xe bồn nước di động và các biện pháp khẩn cấp khác? Tất cả các biện pháp này làm tăng an ninh nước sạch, nhưng không tạo ra lợi nhuận trực tiếp.

Nguồn nước sông bị ô nhiễm

Song, động lực nào sẽ làm cho các công ty cấp nước quan tâm nhiều hơn đến an toàn công cộng,  nếu họ không phải chịu trách nhiệm với khách hàng của họ? Trong khi các công ty nước có thể từ chối cung cấp dịch vụ nếu người dùng chậm thanh toán trong vài tháng, nhưng không có cơ chế hiệu quả nào để người sử dụng nước buộc công ty phải đáp ứng các tiêu chuẩn cấp nước an toàn. Ngoài ra, do là cơ quan trực thuộc các ủy ban nhân dân tỉnh, các công ty cấp nước vốn thừa hưởng các đặc tính của bộ máy quan liêu Việt Nam: quản lý tập thể mà hầu như không có trách nhiệm cá nhân. Trong thực tế, mặc dù có nhiều sự cố liên quan đến an toàn nước công cộng trong các năm qua, cho đến nay có rất ít người bị xử lý.

Phi tập hoá quyền lực và bi kịch quản lý nguồn tài nguyên 

Hầu hết các con sông được khai thác phục vụ cấp nước sinh hoạt đều chảy qua nhiều tỉnh. Do đó, đảm bảo nguồn nước sông an toàn để cung cấp vào các nhà máy nước không bao giờ là nhiệm vụ của một tỉnh duy nhất. Thông thường, các tỉnh ở hạ lưu đông dân hơn, được hưởng điều kiện kinh tế tốt hơn và tiêu thụ nhiều nước hơn, còn các tỉnh phía thượng nguồn thường nghèo hơn, ít dân hơn. Tài nguyên nước mặt là một tài sản chung của cộng đồng, đặt ra yêu cầu phải phối hợp quản lý.

Tuy nhiên, các tỉnh phía thượng nguồn thường không thấy có lợi ích kinh tế nào trong việc bỏ tiền quản lý và bảo vệ nguồn nước, trong khi bên hưởng lợi chính lại là các tỉnh ở hạ lưu. Trái lại, các tỉnh phía trên vẫn vừa có thể xả nước thải vào sông vừa hưởng nguồn nước sạch hơn, nếu họ đặt ống lấy nước cho các nhà máy nước phía trên các điểm xả thải.

Người ta có thể nghĩ một quốc gia tập trung quyền lực mạnh mẽ như Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề phối hợp giữa các đơn vị địa phương không mấy khó khăn. Tuy nhiên, tập trung hoá quyền lực chỉ cho thấy hiệu quả cao  trong vấn đề ổn định chính trị. Còn ở các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên, quyền ra quyết định lại khá phi tập trung. Theo đó, các tỉnh cạnh tranh với nhau để thu hút nhiều dự án đầu tư, đôi khi bằng cách “lách” tiêu chuẩn môi trường. Tựu chung, không có tỉnh nào bận tâm lắm về việc bảo vệ các nguồn tài nguyên chung.

Người dân xếp hàng lấy nước phục vụ sinh hoạt tối thiếu

Hiện tại, cũng không có một cơ chế phối hợp nào đủ hiệu quả để buộc các tỉnh phải quan tâm bảo vệ tài nguyên nước. Các tỉnh ở hạ nguồn không muốn trả tiền cho các tỉnh thượng nguồn để bảo vệ nguồn nước, và các tỉnh phía thượng nguồn lại càng không có động lực kinh tế để làm vậy.

Ai bán cái gì, cho ai, và tại sao?

Việt Nam vốn đang chịu áp lực tư nhân hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước (SOEs), đáp ứng các điều kiện của “nền kinh tế thị trường” để có thể tiếp cận tốt hơn với thị trường Mỹ và EU. Ngành cấp nước, cùng với những ngành khác, cũng được đẩy theo xu hướng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, tư nhân hóa trong lĩnh vực này đã gây ra sự hỗn loạn lớn trên cả nước từ Bắc vào Nam.

Có ba công đoạn chính trong cấp nước công cộng: (1) lấy nước từ nguồn đến nhà máy xử lý, (2) xử lý nước tại nhà máy và (3) phân phối nước đã xử lý vào mạng lưới đường ống tới người tiêu dùng.

Trong số ba công đoạn đó, khu vực tư nhân quan tâm nhất đến việc xây dựng các nhà máy để xử lý nước, kế đến là phân phối nước đã qua xử lý. Công đoạn đưa nước thô vào các nhà máy xử lý tại các thành phố như Hà Nội, Hồ Chí Minh và các tỉnh ven biển phía Nam không hấp dẫn về mặt kinh doanh. Mô hình kinh doanh chủ yếu ở hầu hết các nơi là: các công ty tư nhân mua nước thô từ các công ty quốc doanh, xử lý nước tại các nhà máy nước của họ, nơi thường được quản lý hiệu quả hơn, sau đó bán nước lại đã xử lý cho công ty nhà nước. Nước được xử lý sau đó được phân phối qua các mạng lưới đường ống hiện có, có thể thuộc về một công ty nhà nước hoặc tư nhân.

Việc cung cấp nước đến người tiêu dùng cũng trở nên ngày càng phức tạp vì quyền sở hữu không minh bạch. Câu hỏi “ai bán cái gì, cho ai, và tại sao” lại liên quan đến câu hỏi về việc có bao nhiêu lợi nhuận chảy vào các công ty tư nhân, mà các cổ đông có thể lại chính là người thuộc Hội đồng quản trị của các công ty nhà nước thua lỗ.

Bài toán còn phức tạp hơn nhiều đối với các biện pháp đảm bảo an toàn cho nước công cộng, bao gồm nhiều khâu như xây dựng hành lang bảo vệ các kênh truyền nước thô từ nguồn đến nhà máy, chuỗi các hồ chứa nước để sơ lắng nước trước khi đưa vào nhà máy xử lý, bể chứa nước sạch đã qua xử lý, và nhiều vấn đề khác nữa. Tất cả các khâu trong chuỗi này đều cần đến đất, vốn và ý chí chính trị. Việc quy hoạch đất phục vụ cho các khâu bảo đảm an toàn cấp nước bị xem nhẹ. Kêu gọi đầu tư vào các công trình nâng cao an ninh nước sạch thì khó khăn, không “hấp dẫn” như việc xử lý nước và bán nước cho khách hàng. Còn ý chí chính trị thì chỉ đơn giản là không có.

Vụ nước sinh hoạt bị nhiễm dầu thải ở Hà Nội lần này có thể sẽ kết thúc bằng việc một số thủ phạm bị kết tội xả thải trái phép, trong đó công ty nước là một nạn nhân. Nhưng chuyện căn cơ hơn cả là cấp nước an toàn về dài hạn rất có thể bị bỏ qua. Do đó, ngay cả khi Hà Nội xoay sở xong việc khủng hoảng nước sạch lần này, thì vấn đề an toàn cấp nước cũng chưa hề được giải quyết. Khủng hoảng cấp nước công cộng có thể xảy ra trong tương lai ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các tỉnh phía Tây Nam, hay bất kỳ nơi khác. Vấn đề này đòi hỏi cơ chế phối hợp liên tỉnh, đầu tư cho phúc lợi xã hội và chất lượng quản trị nhà nước.

Thuỷ Nguyễn

ĐH Oregon

You may also like...

2 Responses

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chuyển đến thanh công cụ